Nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya

LĐ - 212 Trần Quang Quý
Ông Cao Văn Tác bên cuốn sách “Leng keng tàu điện”. Ảnh: Kỳ Anh

Nhắc về Hà Nội, người từng sống và gắn bó với thành phố này, kể cả những người đã đi xa, dường như đều có những kỷ niệm khó phai mờ, dẫu có những ký ức đã lùi xa, vẫn là một hoài vọng thầm thì trong dòng chảy tâm thức, trong tình yêu miên man Hà Nội. Tàu điện và tiếng chuông leng keng khuya sớm là một trong những niềm tâm cảm còn lay động trong tâm trí nhiều thế hệ người Hà Nội như vậy.

Tôi còn nao nao tiếng rao đêm khuya khoắt của Hà Nội, nhớ tiếng lá xào xạc khua giòn trên hè phố mỗi khuya từ đâu đó trở về, nhớ một sớm heo may rịn thổi trong sương giăng lãng đãng Tây Hồ… Và nhớ tiếng bánh tàu ruỳnh ruỵch miết trên ray sắt đi ngang phố, leng keng leng keng hút dần phía ngã tư đèn vàng, trông lui cui mà thương thế Hà Nội. Đôi lúc một mình phiêu du trên phố, bỗng đâu đó lại ngân lên da diết ca từ “Nhớ về Hà Nội” của Hoàng Hiệp: “Nhớ những con đê dài lối xe, bước chân năm tháng đi về. Và nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya, hướng ra Đống Đa, Cầu Giấy…”. Một lời ca đẹp, tự thân nó như một thi ảnh man mác gợi một nỗi buồn xa lắc, mà dâng dâng xúc cảm, mà lay thức hồn cốt người ta.
Có lẽ vì vậy, khi đi tìm lại những hồi ức của tháng năm về tàu điện, tôi phải kìm bớt những miên man chợt hiện, và quyết định đi tìm những người lao động bình dị nhất, họ có thể là người lái tàu, người bán vé, người kiểm soát, chị công nhân sửa đường ray… đã gắn liền, gần như cả cuộc đời họ trong tiếng leng keng tàu điện. Như trong họ lại xuất hiện những cô hàng bún Thanh Trì, cô hàng hoa tươi tắn Ngọc Hà, cô hàng cốm làng Vòng mùa thu thơm lúa mới, cô hàng xôi chè, bánh trôi bánh chay Phú Thượng… những tinh mơ gồng gánh, thúng mủng lên tàu. Cả một người lao động nghèo nào đó ngồi co ro góc kín cuối tàu vào những khuya gió lạnh ngược lên Bưởi, hay vào Hà Đông. Tiếng ho lụ khụ trong đêm đông thưa vắng của phố phường Hà Nội cứ khía vào lòng thương cảm về lớp người cần lao, về những cậu học trò nghèo, chỉ đủ tiền đi về bằng tàu điện.
Vị trưởng lão làng tàu và mối tình với cô hàng cá Thủ Lệ
Trong số những người cả cuộc đời gắn bó với tàu điện, cụ là bậc cao niên nhất mà tôi từng được gặp. Cụ là cựu nhân viên bán vé, cựu kiểm soát viên tàu điện từ thời công ty này thuộc người Tây - cụ Nguyễn Bá Nhân, sinh năm 1920, một trưởng lão mà anh em cán bộ hưu ngành xe điện luôn kính trọng. Nhà cụ Nhân ở Giảng Võ dễ đến mấy trăm năm rồi, trên đất đai hương hỏa ông bà để lại tới giờ. Ngày đó, tức khu vực đường Ngọc Khánh và triển lãm Giảng Võ bây giờ, từ năm 1960 về trước còn là cánh đồng lúa. Nửa thế kỷ đi qua, người Hà Nội trở nên chen chúc trong những mảnh đất co thắt và ngày càng teo tóp của mình. Thật khó tưởng tượng trước nhà cụ là cánh đồng ngợp gió, bộn lên hương vị mùa màng. Đặc biệt, Giảng Võ lại là làng có khá nhiều người làm nghề tàu điện, cái nghề mà người ta thường thấy chủ yếu là người ở ngoại thành như Phùng Khoang, Mễ Trì, Hoài Đức… Cũng như nghề bán cá, cụ bảo, theo trí nhớ của cụ, đa số chị em bán cá ở các chợ Đồng Xuân, Hàng Bè, Hàng Da, Cửa Nam xưa, là người làng Thủ Lệ.
Cụ Nhân bắt đầu đi bán vé tàu ở Công ty xe điện thời Pháp từ năm 1949. Cụ là con thứ bảy trong một gia đình có những mười anh chị em, sáu gái bốn trai. Có lẽ vì vậy mà cụ chỉ học đến lớp bảy thời Tây là bắt đầu lo kiếm kế sinh nhai, thay vì miệt mài đèn sách tú cử. Khi vào làm công ty xe điện, mỗi nhân viên phải ký quỹ 20 đồng Đông Dương. Tôi hỏi, 20 đồng thì mua được gì? Cụ bảo, vàng lúc đó là 12 đồng một chỉ. Lương của nhân viên tàu điện 3 hào 9 một ngày, khoảng 12 đồng một tháng. Từ Công ty xe điện ở Thụy Khuê về Giảng Võ quá xa với người đi bộ, lại vào tầm rời nhiệm sở chín mười giờ đêm, sau một ngày ròng rã ngồi tàu, và mỗi ca làm được bố trí từ trưa hôm trước tới trưa hôm sau, nên phần lớn người bán vé, kiểm soát, lái tàu mới đi làm ở sở Tây như cụ những năm đầu thường phải ăn cơm hàng, ngủ nhà trọ. Cơm hàng khoảng 5 xu là no nê, tiền ngủ trọ cũng chỉ một, hai xu một đêm. Nếu không ngủ trọ, tiết kiệm nữa thì vào ngủ tập thể như lán trại công trường trong công ty. Cụ Nhân phải ngủ trọ khoảng bốn năm, chỉ chấm dứt đời trọ đêm khi chắt chiu tậu được chiếc xe đạp cũ cọc cạch.
Cụ Nhân từng kể với tôi, nghề bán vé tàu điện thời Tây nó thế, phải rất liêm khiết và chịu khó. Bán vé lậu, lười biếng, bỏ sót khách là bị đuổi việc liền. Bán vé từ trưa, tối về nộp ngân, nộp cặp cuống vé, lạm tiêu hoặc thiếu 10 đồng cũng bị đuổi việc. Vì vậy, thứ bảy nào công ty này cũng nhận người mới và dĩ nhiên, có những người cũ phải ra đi, vừa mất việc vừa mất tiền ký quỹ. Đã nghèo lại mạt vận. Ai hay tí toáy, “mê” tiền quá cũng dễ lâm vào cảnh đứng đường đứng chợ. Bởi vậy, khi hỏi cái gì làm cho cụ ghi nhớ nhất về nghề thời đó, cụ Nhân vẻ tâm đắc trí lự lắm, nét mặt tươi và sáng hẳn ra dù đã ở tuổi cửu thập. Là cụ tự cho mình vượt qua được thử thách trước đồng tiền, giữ lòng liêm chính. Liêm chính cho hết cả đời làm nghề vận tải tàu điện dưới chính quyền ta sau này.

Cụ Nhân làm ở công ty xe điện người Tây đến năm 1956 thì họ chuyển giao cho ta. Giải phóng thủ đô năm 1954, nhưng công ty xe điện Pháp còn ở lại hơn một năm sau, chờ xem cơ hội làm ăn có còn tiếp tục hay không, cho tới 1956 họ mới rút hẳn. Cụ cũng chuyển sang làm kiểm soát tàu từ đó. Tuyến đường mà cụ gắn bó dài nhất sau này là tuyến đi Hà Đông. Một tuyến đường dài, gồm 5 tàu, 15 toa xe và lượng khách thường đông, thường gồng gánh bịn rịn lắm. Người kiểm soát là phải kiểm tra hoạt động trên tàu, phải điều khiển, phối hợp tuyến làm sao cho thông suốt, không bị ách tắc. Một tàu chết máy nằm chình ình giữa đường có thể làm cả tuyến ngừng trệ. 

Cụ làm công việc ấy cho đến lúc nghỉ hưu, năm 1980. Đó là một cuộc đời thuần túy làm nhân viên nhà tàu, tình yêu cũng nảy nở từ những chuyến tàu vào ra, xuôi ngược thành phố. Và cuộc hôn nhân với cô hàng cá Thủ Lệ cũng đã ra đời đến 8 người con. Các con cụ không ông to bà lớn, không có ai theo nghề của cụ nữa, nhưng theo cụ, cũng thành đạt cả và cụ bằng lòng với những gì mình có. Tôi bảo, thế là cụ khôn, sống thế là nhàn tâm, là sướng. Cụ cười, ừ thì, mình một đời thanh sạch, không ham hố, tranh giành gì. Ít tiền nhưng lại thấy vui. Khối người ôm tiền mà chả sang, thực ra chả sướng, cả cuộc đời toan tính, lo ngay ngáy.

Cái tiếng leng keng của chuông tàu điện dường như còn cựa quậy trong từng thẻo cơ bắp đã héo dần tuổi tác kia. Thời Tây, tàu điện dành cho bà con tiểu thương, buôn gánh, cho người lao động nghèo, cho học sinh. Những năm gian khó thời bao cấp, tàu điện là xe của lớp người bình dân. Tôi hỏi cụ: “Có bao giờ bác lấy lòng bác gái bằng cách miễn phí tàu không?”. Cụ Nhân không trả lời, chòm râu bạc rung rung trong nụ cười sảng khoái, hồn nhiên lạ lùng. Lúc lâu sau cụ “tự thú” rằng, bà ấy quý vì mỗi khi lên tàu lại có cụ, tức cái anh bán vé tàu thời Tây giúp bưng bê quang gánh, giúp thu xếp chỗ ngồi trên tàu cho nhanh nhảu, kịp chuyến. Và từ khi hai cụ đầu mày cuối mắt tình ý cho đến lúc cưới là hai năm. Tình yêu tàu điện của cụ như vậy là chung thủy, bền đẹp, chứ đâu phải “tình yêu tàu xe” mà người ta hay diễu cho những người chỉ thấp thoáng đi ngang một chuyến xe, một cung đường.
Cả cuộc đời còn một chiếc đe
Tôi điện hẹn gặp mấy lần với người cựu lái tàu ấy - ông Cao Văn Tác - nhưng phải lần thứ ba mới có thể có lịch gặp. Đơn giản là vì người cựu lái tàu điện này, dù đã nghỉ hưu từ năm 1990 nhưng ông vẫn đi “làm vớ làm vẩn ấy mà” ở đâu đó, như đi sửa và lắp điện cho bạn bè chẳng hạn, cho đỡ buồn, lại cũng cần có thêm thu nhập để cải thiện đời sống. Con cái dựng vợ gả chồng ăn ở riêng cả, cái lương hưu ít ỏi của nghề lái tàu điện buộc phải sống tằn tiện.
Nhà ông Tác phải đi qua gầm cầu Thanh Trì, tí hút ngoài bãi đê, tại số 226 đường Thúy Lĩnh, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai. Ông Tác mua đất này từ năm 1994, chuyển về ở từ năm 2007. Ông ở đây với người vợ mới “tục huyền”, độ tuổi bốn mươi, khi tôi đến bà vắng nhà vì công việc hằng ngày của bà là trông trẻ thuê. Người vợ này ông lấy sau khi người vợ đầu chẳng may gặp tai nạn bi thương. Xe ôtô chở hai chị em bà bị chết máy nằm giữa quốc lộ giao cắt với đường sắt ở Tam Điệp, đúng lúc tàu hỏa đang lao tới, vào năm 2002 mà báo chí đã rộ tin. Đó là một nỗi đau mà số phận dường như còn để lại trong người đàn ông tuổi Canh Thìn này. Ông còn có một nỗi mất mát thương đau nữa, ấy là người em trai Cao Văn Lượng, sinh năm 1943, tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn đặc công, hy sinh trong trận đánh phá hủy kho xăng Long Bình của Mỹ năm 1970, để lại người vợ trẻ mới cưới mà chưa kịp có đứa con nào. Các cụ thân sinh của ông lại chỉ có hai anh em trai ông thôi!

Ông tiếp tôi bằng câu chuyện tàu điện khá hào hứng, như cố lấp những trống trải của xa vắng tàu điện lâu ngày, nỗi đoạn trường của cuộc đời lắm niềm thương cảm, bi ai. Nào ai biết ông là người Hà Nội “chính cống”. Nào ai biết gia đình ông đã ở phố Bảo Khánh, ngay sát hồ Gươm từ năm 1945. Ký ức tuổi thơ và Hà Nội thân thương của ông được nuôi dưỡng và lớn lên từ cái phố nhỏ bên hồ Gươm linh thiêng, thăm thẳm huyền tích, âm vang sử thi, lung linh cội nguồn văn hóa Thăng Long - Hà Nội.

 Cũng từ căn nhà ấy, cha ông - cụ Cao Văn Tích - hằng ngày đi lái tàu điện. Cụ lái tàu điện từ năm 18 tuổi. Mãi tới năm 1983 cụ Tích mới nghỉ hưu. Với ông Tác, thế là nghề cha truyền con nối hẳn hoi rồi. Bởi ông Tác cũng lái tàu từ năm 1960, sau một thời gian đi bán vé tàu. Như vậy, từ năm 1960, gia đình ông luôn có hai lái tàu, một cha một con, một già một trẻ cùng hòa tấu leng keng trên những toa tàu khua dọc đường Bờ Hồ - Mơ, Bờ Hồ - Hà Đông, Bờ Hồ - Bưởi. Ông Tác cũng có một số năm gián đoạn nghề lái tàu điện. Vì năm 1965, ông vào quân ngũ, sau người em trai Cao Văn Lượng 5 năm. Năm 1970 ông Tác ra quân và trở lại Công ty xe điện, tiếp tục lái tàu. Lái tàu cho đến khi ngừng và chính thức dỡ bỏ tàu điện. Ôi tàu điện, phương tiện giao thông được khởi công từ năm 1900 lúc phố phường Hà Nội thưa vắng hơn bây giờ rất là nhiều.

Vậy trong ông còn đọng những gì? Ông Tác cười cười, nhát gừng bày tỏ, chẳng văn hoa cầu kỳ. Ấy là nhớ khoảnh khắc 4 giờ sáng và 10 giờ đêm. Đó là những khoảnh khắc khởi hành và kết thúc ở ga cuối, cũng là trụ sở công ty ở Thụy Khuê. Nhớ những đêm mưa gió, rét mướt. Nhớ những buổi giao ca hàng trăm con người của 2 ca, 4 tuyến đường tại ga Bờ Hồ, tức khu nhà “hàm cá mập” hiện nay. Bao nhiêu điều nhớ, cả điều đã quên cùng muốn tái hiện trong khả năng nhớ ngày càng nhợt nhạt của quy luật tuổi tác, quy luật của thời gian trong vỏ não con người. Nhưng sự tận tụy nghề nghiệp và tính cách của riêng mình thì không thể nguôi quên. 

Tất nhiên, người hậu sinh nơi ông có cái giống nhưng cũng có cái khác so với bậc trưởng lão - cụ Nguyễn Bá Nhân. Cái giống nhau ở đặc tính nghề, ở năm tháng rong ruổi với con tàu, với đều đặn gió mưa chạy chuyến và giao ca, nhưng ông Tác không có cơ duyên “phải lòng” một cô nàng đi chợ nào như cụ Nhân. Người vợ đầu của ông Tác là người của mậu dịch quốc doanh. Bà đã làm đến Phó giám đốc Công ty thu mua, gia công hàng ăn uống. 

Theo ông Tác, thời mậu dịch quốc doanh ấy đời sống gia đình ông không đến nỗi nào, nếu không nói là khá. Nhưng rồi gia đình ông cũng chỉ dừng ở mức tầm tầm vậy thôi, bởi vợ ông cũng là người thật thà, không vụ lợi. Có lần được phân nhà bà từ chối không nhận, ông hỏi vì sao, bà bảo vì “còn bao nhiêu người không có nhà, mình đã có chỗ ở rồi, nhận làm gì”… 

Và để không quên những năm tháng cùng trải với nghề tàu điện, ông Tác cho hay, từ năm 2001, Câu lạc bộ tổ hưu trí Đoàn vận chuyển Công ty xe điện của ông ra đời và mỗi năm tụ họp, sinh hoạt vào 20 tháng giêng. Khi tôi chuẩn bị ra về, tôi có nói về sự tiếc nuối của mình, sao những người làm xe điện thập niên 80 ấy không để lại bất kỳ một kỷ vật nào về tàu điện. Giá bây giờ có một cái đầu tàu của Tây từ thế kỷ 19, một đoạn ray, một quả chuông, một cái đèn… chẳng hạn, làm kỷ niệm, làm bảo tàng tàu điện Việt Nam, trong hệ thống giao thông đường bộ nước nhà thì quý biết mấy. Rất tiếc, người ta đã cho vào lò nung, vào cơ sở tái chế sắt vụn để biến chúng thành thép xây dựng cả rồi. Ông Tác chợt reo lên, rằng ông còn có một cái đe. 

Ông bảo: “Cuộc đời lái tàu điện của tôi còn lại mỗi cái đe”. Thế mà khối người đòi mua, chả biết mua để làm đồ cổ hay làm gì nhưng ông không bán. Thỉnh thoảng ông lại mang ra để kê chặt sắt, gò đập, uốn, gõ lại nắp xoong… Tôi dẫn bác đi xem nhé, ông hào hứng như đứa trẻ còn nhớ mình bỏ sót một viên kẹo trong túi áo.

Từ sau cái chuồng gà, ông lôi ra một cái đe nho nhỏ. Thực ra, nó là một đoạn ray được cắt ra để làm đe chứ không phải một cái đe được đúc hẳn hoi. Tuy vậy, nó vẫn có thể coi như đồ hiếm, vì tất thảy sắt thép của những con tàu, của đường ray nay đã hoàn toàn biến mất trên mọi ngả đường, kể cả một nơi yên tĩnh nào đó của Hà Nội. Nó chỉ còn lại trong tranh ảnh, trong trí nhớ của những lớp người Hà Nội từ thập niên 80 về trước. Một vẻ đẹp buồn của quá vãng, tàu điện ơi!

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Nội dung cuộc điện đàm giữa Putin và Trump được tiết lộ nóng nhất hôm nay