Kỷ luật, đồng tâm – Chúng ta nhất định thắng!

Tròn 80 năm, ngày 12.11.1936, cuộc đình công của hơn 3 vạn thợ mỏ Quảng Ninh phản kháng chế độ thực dân Pháp kéo dài 20 ngày, khởi đầu từ Cẩm Phả, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với khẩu hiệu “Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng”, giành thắng lợi vang dội. Thắng lợi ấy là một đòn chí mạng, làm rung chuyển, gây choáng váng cho thực dân Pháp , góp phần khẳng định vai trò to lớn của giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng Việt Nam và là động lực mạnh mẽ tiến tới cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8.1945. “Kỷ luật, đồng tâm” đã trở thành phương châm, là tài sản vô giá của các thế hệ công nhân vùng Mỏ suốt 80 năm qua, giúp ngành Than vượt qua bao thác ghềnh, sóng gió, để trở thành một tập đoàn kinh tế lớn mạnh của đất nước.

Kỷ luật, đồng tâm – Chúng ta nhất định thắng! ảnh 1
Thợ lò Vàng Danh vào ca

Cái nôi của giai cấp công nhân

Ngành than Việt Nam được hình thành năm 1840 khi Vua Minh Mạng ban chỉ dụ cho phép khai thác than tại Yên Lãng, Yên Thọ, Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Năm 1888, thực dân Pháp lập ra một công ty khai thác than đá lớn nhất nước Pháp – Cty than Bắc Kỳ – để khai thác trên trên diện rộng tại Quảng Ninh. Vì thế, nơi đây xuất hiện cơ sở công nghiệp có quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam cũng như Đông Dương và là một trong những “cái nôi’ của giai cấp công nhân Việt Nam.

Từ 1928 – 1929, thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, nhiều chiến sĩ cách mạng đã đến đây, đi vào nhà máy, hầm mỏ để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, vận động quần chúng công nhân giác ngộ cách mạng, tham gia Cộng hội đỏ. Vùng mỏ Quảng Ninh khi ấy đã trở thành trường học đấu tranh cách mạng, nơi đào tạo, rèn luyện nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, như Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt…

Ngay sau khi Đảng CSVN ra đời (ngày 3.2.1930), Chi bộ Đảng CS đầu tiên tại vùng Mỏ được thành lập ở Mạo Khê, cùng các chi bộ khác ở các nơi lãnh đạo phòng trào công nhân mỏ tại Quảng Ninh. Chỉ từ tháng 3-10.1930, ở các khu mỏ đã có trên 20 cuộc đấu tranh, thu hút đông đảo công nhân tham gia, đấu tranh chống thực dân Pháp.

Như mạch ngầm sôi sục, phong trào cách mạng của công nhân ở các khu mỏ từng bước phát triển giữa vòng vây của kẻ thù.

Đặc biệt, chỉ trong vòng 20 ngày, kể từ đêm 12.11.1936, trong tất cả các cơ sở của Cty Than Bắc kỳ của thực dân Pháp, hơn 3 vạn công nhân Hồng Gai Cẩm Phả và các vùng lân cận đã xuống đường đấu tranh vô cùng gay go, quyết liệt trên một tuyến dài gần 100km đã giành được thắng lợi rực rỡ.

Cuộc tổng bãi công đã khiến toàn bộ hệ thống sản xuất của Cty Than Bắc kỳ gần như tê liệt. Thắng lợi về mặt kinh tế, các chủ mỏ thực dân Pháp buộc phải tăng lương, điều chỉnh các chế độ, chính sách có lợi hơn cho công nhân. Về mặt chính trị, sự vùng dậy của 3 vạn thợ mỏ không chỉ là cơn bão táp cách mạng làm lung lay tận gốc chế độ thực dân, mà còn có tác động mạnh  đến xã hội vùng mỏ và làm thay đổi một phần bộ mặt của nó.

“Đây là cuộc đấu tranh lớn nhất trong lịch sử phong trào công nhân khu mỏ và có tiếng vang xa không chỉ trong vùng mỏ, mà còn ảnh hưởng đến nhiều tỉnh, thành, có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến phong trào đấu tranh của công nhân cả nước” – Tiến sĩ Đinh Quang Hải, Viện trưởng Viện Sử học, thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam – nhận định – “Ý nghĩa to lớn nhất và quan trọng nhất thể hiện sự thay đổi về chất trong cuộc đấu tranh là sự lớn mạnh không ngừng của phong trào công nhân, sự trưởng thành của tổ chức Đảng cùng các tổ chức quần chúng khác ở vùng mỏ”.

“Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc”

Đó là lời Bác Hồ nói với Đoàn đại biểu cán bộ, công nhân ngành Than tại Phủ Chủ tịch, ngày 15.11.1968.

Ông Đoàn Văn Kiển – một thợ lò kỳ cựu, nguyên Chủ tịch HĐQT, nguyên Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) – tâm sự: “Những người trong ngành Than cho đến nay vẫn còn chưa hết ngỡ ngàng: Vì sao Bác Hồ lại hiểu kỹ ngành Than và chia sẻ với thợ mỏ sâu sắc đến vậy?

Ông Kiển lý giải: Muốn đánh thắng giặc thì phải biết thương yêu nhau, đoàn kết, chịu đựng gian khổ, dám hi sinh, gan dạ, dũng cảm, sáng tạo và chỉ huy giỏi. Sản xuất than cũng đầy gian khó: lòng đất chật hẹp, thiếu dưỡng khí và luôn phải đối mặt với các hiểm họa chết người, như sập lò, bục nước, khí độc, cháy nổ khí mê-tan…Nhưng chính tình yêu thương nhau, lòng dũng cảm, sáng tạo, cùng tinh thần “Kỷ luật – đồng tâm” đã giúp lớp lớp thệ hệ thợ mỏ luôn đi đầu vượt khó, bỏ lại phía sau sự sợ hãi, gian nguy để tiến sâu từng tấc, từng mét, mang ra nhiều tấn than cho Tổ quốc.

Trưởng thành từ người thợ lò rồi trở thành người đứng đầu ngành Than, ông Kiển đã chứng kiến bao đau thương, mất mát, máu đổ, mồ hôi rơi của các đồng nghiệp, của những người công nhân của mình, để đem về từng hòn than từ dưới sâu thẳm

Trong sản xuất đã vậy, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, những người thợ mỏ cũng đã tham gia trên nhiều mặt trận, từ hậu phương cho tới chiến trường. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 16.12.1967, lần đầu tiên khoảng 2.000 công nhân mỏ, mà người vùng than gọi với các tên thân thương Binh đoàn Than, đã lên đường Nam tiến.

Sau chiến dịch Mậu Thân – 1968, nhiều người lính ở Binh đoàn Than được điều về tham gia chiến đấu ở các đơn vị khác. Kết thúc chiến tranh, có hơn 300 người lính trong Binh đoàn than nằm lại chiến trường, gần 400 người khác là thương binh, bị nhiễm chất độc da cam. Nhiều người trong số đó, sau giải phóng, lại trở về làm công nhân mỏ.

Vùng mỏ Quảng Ninh trong thời kỳ chiến tranh cũng thường là điểm bị máy bay Mỹ bắn phá. Vì thế, xí nghiệp, nhà máy, mỏ khai than than nào cũng đều có các lực lượng tự vệ tham gia chiến đấu. Nhiều đơn vị trong ngành than được vinh danh là “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, như: Đại đội pháo cao xã Đặng Bá Hát, Đại đội nữ tự vệ Xí nghiệp bến Cửa Ông…

Kỷ luật, đồng tâm – Chúng ta nhất định thắng! ảnh 2
Khai trường than Cao Sơn, TP.Cẩm Phả

Vững bước đi lên

Giai đoạn nào cũng vậy, đội ngũ công nhân mỏ luôn có những đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của kinh tế đất nước, đặc biệt là từ khi Tổng Cty than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam) được thành lập. Với đội ngũ 113.000 CNVCLĐ, TKV liên tục phát triển mạnh mẽ và là một trong những tập đoàn kinh tế hàng đầu của đất nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lược quốc gia.

Nếu như năm 1997, sản lượng toàn ngành chỉ ở mức 11,3 triệu tấn thì 10 năm sau – năm 2007, sản lượng tăng lên 42,2 triệu tấn và đạt kỷ lục 45 triệu tấn năm 2011. Tổng doanh thu từ than năm 1994 đạt 1,3 nghìn tỉ, tăng lên 54.000 tỉ vào năm 2015. Vốn sở hữu tăng  gấp 37 lần, từ 900 tỉ năm 1995 lên 35.000 tỉ đồng năm 2015. Nếu như năm 1995, toàn ngành đóng góp cho ngân sách khoảng 120 tỉ đồng thì đến nay, mức đóng góp này bình quân đạt hơn 13.000 tỉ đồng/năm. Nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu than cũng không ngừng gia tăng, trong đó năm đạt cao nhất là 1,554 tỉ USD.

Nhờ đó, thương hiệu của TKV ngày càng được khẳng định trên thị trường, với việc trong vòng 5 năm trở lại đây, TKV luôn đứng trong tốp 10/500 DN lớn nhất Việt Nam và tốp 10/1.000 DN nộp thuế thu nhập DN lớn nhất Việt Nam do VN Report bình chọn.

Hiện nay, ngành than đang đứng trước thử thách lớn chưa từng thấy, khi lượng than tồn đã lên tới khoảng 11 triệu tấn, trong khi mỗi năm hàng ngàn công nhân mất việc.

Tuy nhiên, những người trong cuộc tin rằng, sức mạnh tinh thần của “Kỷ luật, đồng tâm”, được khởi nguồn từ cuộc Tổng đình công của hơn 3 vạn thợ mỏ tháng 11.1936, vốn đã tạo ra cốt lõi của bản sắc văn hóa Than, sẽ dẫn dắt ngành than vượt qua mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra.

Nguyễn Hùng

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Gộp Tết tây với Tết ta ở Việt Nam: Đại sứ Mỹ Ted Odius nói gì?