Tìm sâm ở Trường Sơn - kể lại chuyện đường rừng

LĐ - 218 Nguyễn Huy Minh
Cây sâm được trồng dưới tán rừng trên đỉnh núi tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) ở độ cao 1.900 - 2.000m so với mực nước biển. Ảnh: TTXVN

Ngót nghét tuổi 80, râu tóc phiêu dật nhẹ nhõm như thoát khỏi sự ràng buộc của cuộc đời, dược sĩ - lương y Đào Kim Long sống trong một con ngõ nhỏ của phố An Dương Vương (Hà Nội). Gặp tôi, ông cười, câu chuyện nào cũng dài và không có hồi kết, đúng không? Loài cây quý đặc hữu của Việt Nam ngày càng quen thuộc với cái tên sâm Ngọc Linh, đến nỗi bây giờ chẳng mấy người biết chuyện ở Ngọc Lĩnh Sơn, ngọn núi tổ của dãy Trường Sơn, nơi lần đầu chúng được tìm thấy 43 năm về trước. “Để cho cây sâm nổi tiếng hơn thì tôi sẽ cố sức. Tôi vì cây sâm” - ông nói.

Đi về hướng “núi tổ”
Sinh năm 1940, khi đang là một cán bộ trường Dược, ông nhận lệnh đi tìm thuốc nam phục vụ chiến tranh. Ông và các cộng sự lần theo vệt di cư của cây cỏ từ Hoa Nam sang Việt Nam, cứ thế mà đi bộ, từ Hòa Bình vào tới tận ngã ba Đông Dương ở Ngọc Hồi, Kon Tum năm 1971, rồi quay trở lại. Vừa đi vừa quan sát, ghi chép, đánh dấu được mấy trăm loại cây thuốc dọc đường. Khi vào tới Dân y Khu 5, ông đề nghị được điều tra tiếp khu vực Đông Trường Sơn, nơi có địch đan xen, dính mấy trận phục kích mà không chết, tìm thêm được mấy trăm vị thuốc nữa.
 Lương y Đào Kim Long.

 Tháng 6.1972, hội nghị Dược toàn Khu 5 được tổ chức, người từ Đắk Lắk ra, người ở Bình Thuận lên, cùng đi đến thống nhất rằng, thuốc chữa bệnh đang vô cùng thiếu thốn, phải tìm được sâm và nếu có thì chỉ có thể ở Ngọc Lĩnh Sơn. Có thể và hy vọng. Bí thư Khu ủy Khu 5 Võ Chí Công yêu cầu lập đoàn điều tra ngay! Trước đó, năm 1969-1970, đã có một đoàn đi tìm sâm trực chỉ hướng cao nguyên Lang Biang, nhưng đến Phù Cát (Bình Định) thì đụng máy bay cán gáo, cả đoàn hy sinh. Hướng đi này hình thành và triển khai do có quan điểm cho rằng tại Lang Biang có khả năng tồn tại sâm Nhật Bản. Nhưng có ý kiến khác rằng, Ngọc Lĩnh Sơn là “núi tổ” của cả dãy Trường Sơn, có sông suối tỏa ra ba nước Đông Dương nên nếu có sâm thì chỉ có thể có ở đây. Dạo ấy, không khí chiến tranh vẫn bao trùm cả đại ngàn Tây Nguyên. 
Đoàn đi tìm sâm ở Ngọc Lĩnh Sơn được hình thành từ tháng 6.1972, nhưng phải đến rằm tháng 10, hết mùa mưa, mới có thể khởi hành. Đi bộ. Mỗi người cõng chừng 40kg sau lưng đựng bản đồ tác chiến của pháo binh, máy ảnh, la bàn, máy đo độ cao, sổ sách tài liệu, súng ống đạn dược, đi đến đâu bắn chim, săn cá ăn đến đấy. 23 tết mới đến được Kon Tum, Sở Y tế mổ lợn cho ăn. Ăn tết xong lại đến thời điểm Đắc Tô - Tân Cảnh được giải phóng, gặp lúc dân bị bệnh dịch chết như ngả rạ, đoàn tìm sâm được lệnh quay lại giúp bà con chống dịch. Hết dịch lại đi. Lúc này đúng mùa sâm đang sắp ra hoa trăng trắng, may mắn thế, chứ đi sớm hơn hoặc muộn hơn không chắc đã tìm thấy. 
Ở lưng chừng Ngọc Lĩnh Sơn, Đinh Kim Loan là cán bộ huyện H80 đưa đoàn tìm sâm đến bản Đăk K’man của người Xơ Đăng để chào ra mắt. Dược sĩ Đào Kim Long đi dạo vòng xung quanh bản, gặp già làng hỏi, mày từ đâu đến đây? Trả lời Hà Nội. A, nay cũng mới gặp được một người đến từ Hà Nội. Vậy là hai người kết nghĩa anh em, một người 73 tuổi với một người 33 tuổi. 
Rượu đót, làm từ một loại cây giống như cây thốt nốt, nhẹ khoảng 11-12 độ, rót ra bát từ ống lồ ô. Bát gốm hơi mẻ một tí vẽ con gà ở ngoài. “Già làng Đăk K’man uống trước rồi đỡ hai tay cho mình uống cạn. Cho vợ uống với mình một bát, 6-7 đứa con mỗi đứa uống với mình một bát. Rồi lại gọi thanh niên bản đến uống tiếp. Phải say không biết đường về mới là anh em. Tôi say nằm nhà rông Xơ Đăng, tỉnh dậy thấy người đầy muội than và bắt đầu nói với bà con chuyện chữa bệnh bằng cây cỏ. Anh kết nghĩa mời già làng trưởng bản trong vùng tới nhận mặt tôi, còn Đinh Kim Loan thì giới thiệu rằng, đoàn chúng tôi đến đây chỉ để tìm hiểu, điều tra cây cỏ. Trên đỉnh Ngọc Lĩnh Sơn, không có lính Mỹ, lính Pháp nào từng tới được đó, sườn núi đầy bẫy thú. Không ai đưa chúng tôi đi tiếp, chúng tôi đi theo bản đồ trên tay” - ông kể. Từ bản Đăk K’man sang bản Moda trâu bò thả linh tinh, đường bẩn. Hồi xưa cũng có dạo người của Moda từng cõng Pháp lên Ngọc Lĩnh Sơn, lính bắn bò tót bị nổ khai hậu mù mắt nên từ đó không ai lên nữa. 
Dược sĩ Đào Kim Long chia đôi đoàn để tìm kiếm. Ông dẫn đầu đoàn của mình, đi giữa là dược sĩ Nguyễn Thị Thu Lê, đi cuối là dược sĩ Nguyễn Châu Giang. Giang là sinh viên mới ra trường, cái gì cũng hỏi. Trên một đoạn đường rừng, Giang chạy vượt lên gặp ông rồi hỏi: Anh ơi, cây gì đây? Đúng sâm rồi. Bụi ấy có 3-4 nhánh nhoi lên trên mặt đất, ông bảo Giang lấy dao găm đào củ lên, còn mình thì chụp ảnh và đo độ cao, chỗ này chừng 1.800m so với mực nước biển, dưới tán rừng hỗn giao lá rộng lá kim xã Ngọc Lây, huyện H80, nay là huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Giờ các cộng sự vẫn kể lại rằng, ông đã đặt củ sâm lên tấm khăn trắng rồi hôn nó, sau đó còn khắc dấu lên cây gỗ cạnh đấy mấy chữ: “Tìm thấy cây sâm ở đây”. Thời khắc lịch sử đó là 9h ngày 19.3.1973. Củ sâm đầu tiên ấy cỡ độ hơn chục năm tuổi, vẫn được ông Trần Lai - dược sĩ, Ủy viên ban Dân y phụ trách dược Khu 5 - giữ đến tận bây giờ. 
Ba người tìm kiếm, ghi chép về các loài cây xung quanh vùng sinh thái 1.800m này rồi đi tiếp. 17h, đến ven suối ở độ cao 2.200m, đặt ba lô xuống là đè lên sâm. Sâm bạt ngàn, xung quanh là ong bay, chiều tà, nước suối chừng 15-17 độ, ba người cắm tăng ở lại. Bước đi trong chốn thiên đường phải cẩn thận, không có chân giẫm lên sâm. Ba người bắt đầu quá trình thu gom để phơi khô mang về, khoảng 4,5-6kg sâm tươi thì được 1kg sâm khô, tổng cộng được hơn 10kg tất cả. Trong lúc Thu Lê làm sâm thì hai người đàn ông đi điều tra xem chúng từ đâu tới. Đi xuôi theo suối xuống hạ lưu, ở cao độ khoảng 1.200m thì sâm thưa dần, 1.000m thì hết. Đi ngược lên thượng nguồn thì rất hiểm trở, lá mục dày cả gang, bước nào đi cũng phải dò dẫm xem lỡ có tụt hố hay không. Cách sau ngày tìm thấy sâm ít hôm, khi đang nghiên cứu một quần thể sâm mọc bám quanh hòn đá ghềnh giữa suối, thì một cô gái Xơ Đăng đột ngột xuất hiện, hỏi đi đâu. Trả lời là đi bắn chim rừng. Không lâu sau cô gái Xơ Đăng kéo theo 30-40 người đến bắt, lôi về bản gần đó. Chiến tranh đẩy con người lên ẩn mình cao hơn trên triền núi. Nhà già làng treo cặp sừng bò tót cong veo đầu trái, chẳng mất thời gian gì lâu la ông ấy nhận ngay ra dược sĩ Đào Kim Long vì đã được anh kết nghĩa giới thiệu khi ở bản Đăk K’man. Già làng kêu người thả ra, rồi cho thêm gùi khoai và mật ong rừng. Chỗ thực phẩm này giúp ba người sống thêm được nửa tháng nữa. Đến thời điểm đó, đoàn đã hiểu rằng, cây sâm phân tán theo dòng suối chảy, nhờ hạt trôi theo dòng nước. Do đặc điểm hình thái thân rễ có đốt nên đoàn điều tra đã đặt tên cho chúng là sâm Đốt Trúc (Panax articulatus) hay sâm K5. Gọi tên cụ thể là sâm Ngọc Lĩnh Sơn là lộ địa điểm ngay, nên dược sĩ Đào Kim Long đổi chệch tên thành sâm Ngọc Linh, để kẻ thù có biết cũng không tìm được.
Cả chuyến đi, dược sĩ Đào Kim Long hai lần gặp chuyện hiểm nghèo. Một lần ông bị trôi suối, rơi xuống thác, may mà không đập đầu vào đá. Một lần gặp hổ. Ngủ rừng, ông cảm thấy bất an nghi hoặc nên mấy anh em cắm 36 ngọn nứa quây quanh lán, như vòng tròn trừ tà của Tôn Hành Giả. Thấy vẫn chưa yên tâm, lại cắm thêm 36 ngọn nữa thành 72 ngọn. Đêm đang ngủ thì có mùi thối xộc vào, thấy có tiếng gầm gừ bên ngoài hàng rào. Ông vẫn cầm khẩu K54 đặt trên bụng, tiện tay bắn luôn một phát xuyên qua chăn. Con hổ chồm lên chạy mất, soi đèn ra xem thấy vết chân và vệt nước dãi của nó còn nguyên dưới đất. Mấy anh em không ngủ tiếp được nữa, đốt chăn ngồi tới sáng. Có lẽ phát súng không trúng đích, chứ không đoàn đi đâu con hổ cũng lần mò rượt theo để trả thù rồi. 
Cuối tháng 5.1973, đoàn tìm sâm về tới Kon Tum, Bí thư Tỉnh ủy khi ấy là Phan Quyết yêu cầu bàn giao toàn bộ hồ sơ chuyến điều tra này. Số sâm khô được đoàn bàn giao cho các cán bộ tùy tùng của Bí thư Khu ủy Võ Chí Công, ngay trong cuộc gặp lại này, ông Võ Chí Công đã trăn trở làm sao nhân rộng ra trồng đại trà để có nhiều sâm phục vụ được quân dân cả nước. Trở về toàn thắng, ông được đề bạt làm K trưởng K65, chuyên nghiên cứu và kiểm nghiệm dược liệu của Khu 5, một chức vụ tương đương giám đốc hoặc đại tá trong chiến trường, trở thành người đứng đầu về cây cỏ của cả một vùng rộng lớn. 
 “Sau này, năm 2009, khi gặp lại tôi, cụ Võ Chí Công vẫn hỏi vui rằng, đã di thực được cây sâm xuống trồng ở dưới đồng bằng chưa? Giờ tên thủ trưởng đã được đặt thành tên đường ở ngay quận Tây Hồ này, nhà mình cũng ở gần con đường mang tên thủ trưởng” - ông cười hiền lành.
Bước qua khủng hoảng 
Câu chuyện về sâm Ngọc Linh chưa dừng lại. Mới đây, Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đã hoàn thành báo cáo trên cơ sở các cụm công trình nghiên cứu khoa học y dược về sâm Ngọc Linh kéo dài hơn 40 năm qua. Theo đó, cho đến nay, chưa ai biết loài cây này có từ bao giờ và đã được dùng làm thuốc từ lúc nào. Kết quả điều tra sâm do đoàn của dược sĩ Đào Kim Long dẫn đầu đã được khai thác sử dụng ngay cho việc chăm sóc sức khỏe chiến sĩ, nhân dân trong khu giải phóng, tiền đề cho mọi nghiên cứu về sau.  
Ngay sau hòa bình thống nhất đất nước, Bộ Y tế đã thành lập đơn vị nghiên cứu chuyên đề SK5 thuộc Khoa Dược - ĐH Y Dược TPHCM (1977), đến năm 1978 thì thành lập Trung tâm Sâm Việt Nam và hình thành Liên hiệp Khoa học sản xuất sâm và dược liệu - Bộ Y tế (1994). Đến năm 1997, Liên hiệp được hợp nhất về Viện Dược liệu với tên gọi là Trung tâm Sâm và Dược liệu TPHCM. Riêng ở Gia Lai - Kon Tum thành lập Công ty dược liệu I Ngọc Linh (1976) để bảo tồn và phát triển, nghiên cứu xác minh giá trị loài sâm mới này. Năm 1985, trên cơ sở tiêu bản mẫu chuẩn và các số liệu thực vật học của Trung tâm Sâm Việt Nam cung  cấp, Hà Thị Dụng và I.V.Grushvitsky đã xác định là loài mới và chính thức công bố tên khoa học cây sâm đốt trúc là “Panax vietnamensis Ha et Grushv”. Đây là một loài sâm mới của thế giới thuộc chi Panax L, họ Araliaceae (họ nhân sâm) với những đặc điểm riêng biệt về hoa, quả, hạt. Từ những tên địa phương như cây thuốc giấu, ngải dọm con, sâm cung… ngày nay sâm Việt Nam đã chính thức trở thành một cây thuốc quý hiếm của cả nước. Kết quả các công trình nghiên cứu về sinh học, nông học, hóa học, dược lý và lâm sàng đã được các nhà khoa học trên thế giới công nhận sâm Ngọc Linh là 1 trong 4 loài sâm quý của thế giới cùng với sâm Triều Tiên (Panax ginseng), sâm Mỹ (P.quinquefolium), Tam thất (P.notoginseng) và sâm ba lá (P.trifolius), đang được bộ hướng chọn xây dựng thành sản phẩm quốc gia về dược liệu. 
Phát hiện loài sâm đặc hữu trong chiến tranh là một sự kiện hết sức đáng nhớ của ngành Dược Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về nó cho thấy đã tìm được cho đất nước một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, cực kỳ độc đáo với hàm lượng saponin toàn phần và số lượng các hợp chất saponin đều vượt trội so với sâm Triều Tiên. Hạt sâm hiện có thể gieo thẳng trong vườn ươm hoặc gieo trong khay nhựa, có thể nhân giống hữu tính hoặc nhân giống vô tính từ đầu mầm. Cây sâm Việt Nam thu hút sự đầu tư nghiên cứu của các nhà khoa học cả trong và ngoài nước. Từ các đề tài, dự án các cấp đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học chuyên sâu về sâm Việt Nam gồm 1 tiến sĩ khoa học, 12 tiến sĩ, 5 thạc sĩ và 30 dược sĩ đại học. 27 bài báo về sâm Việt Nam được in trên các tạp chí quốc tế uy tín và 32 bài báo trên tạp chí trong nước. Rất nhiều kết quả nghiên cứu đã được công bố trong các hội nghị khoa học uy tín trên thế giới; 2 cuốn sách có giá trị khoa học cao được xuất bản.
Sau chuyến đi của đoàn tìm sâm do dược sĩ Đào Kim Long dẫn đầu, các nhà thực vật Việt Nam đã điều tra thêm nhiều đợt xác định vùng phân bố của loài này trên độ cao 1.500m lên đến 2.400m thuộc 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, trong tọa độ địa lý giới hạn từ 14055’ đến 15007’ vĩ độ Bắc và từ 107051’ đến 108005’ kinh độ Đông, là loài duy nhất của chi Panax phân bố xuống tới 15 vĩ độ Bắc. Các cuộc điều tra trữ lượng diễn ra trong phạm vi 13 xã của ba huyện quanh núi Ngọc Linh thuộc hai huyện Đăk Tô, Đăk Lây (Kon Tum) và Trà My (Quảng Nam), khảo sát 151 con suối từ độ cao 1.500m trở lên tới đầu nguồn ở 50 đỉnh núi có độ cao từ 1.700m trở lên và đã phát hiện 108 vùng có sâm mọc tập trung. Qua đó đã xây dựng 11 chốt bảo vệ và khoanh vùng đánh giá trữ lượng 11 khu phân bố điển hình, đặt 1.032 ô tiêu chuẩn, thu 137.932 số liệu từ 17.548 cây sâm có độ tuổi từ 1 đến 62 năm, trong đó hơn 78,5% số cây có trên 10 năm tuổi. Đã vẽ 136 bản đồ, sơ bộ xác định trữ lượng 50 tấn sâm khô trong địa phận Kon Tum và 1 tấn sâm khô trong địa phận Quảng Nam. Cây sâm Việt Nam thân thảo sống nhiều năm có thể cao đến 1m, có thân rễ rất phát triển. Kết quả điều tra đã thu được cây có tới 82 đốt tức có 82 năm tuổi. Củ sâm đa phần dạng con quay như củ tam thất nhưng cũng gặp nhiều cây có củ dạng cà rốt như nhân sâm. 
Vùng phân bố sâm Việt Nam hiện được xem là vùng sâm thuộc khu vực nhiệt đới độc nhất còn lại trên thế giới. Cho đến nay người ta vẫn còn phát hiện thêm vùng sâm hoang dại ở đỉnh Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, Phước Sơn (Quảng Nam) và có lẽ sâm tự nhiên vẫn còn có ở đâu đó trong vùng núi Ngọc Linh/Ngọc Lĩnh Sơn.
Năm 1984, Nhà nước quy hoạch vùng sâm thành vùng cấm quốc gia, nhằm bảo vệ, tránh nguy cơ tuyệt chủng. Tiếc rằng sau năm 1985 Công ty dược liệu I Ngọc Linh giải thể bàn giao vùng sâm cho ngành lâm nghiệp. Trạm dược liệu Quảng Nam Đà Nẵng sáp nhập vào Liên hiệp Dược Quảng Nam Đà Nẵng nên Trại dược liệu Trà Linh không hoạt động, cây sâm không còn được bảo vệ, dẫn tới tình trạng khai thác bừa bãi, không gắn với bảo tồn phát triển. Những năm 90 cây sâm bị khai thác kiệt trong tự nhiên, các điểm trồng sâm bị tàn phá, tỉnh Kon Tum và Quảng Nam cho thu gom cây sâm lại, trồng lưu giữ được vài ngàn mét vuông ở mỗi tỉnh. Năm 1995, cây sâm Việt Nam ngoài tự nhiên đứng bên bờ vực tuyệt chủng. Năm 1998, Viện Dược liệu hỗ trợ Sở Y tế tỉnh Quảng Nam khôi phục Trạm sâm Trà Linh, bảo tồn và nhân rộng diện tích sâm trên cơ sở trại dược liệu cũ. Đến nay, cây sâm Việt Nam về cơ bản đã thoát khỏi những tháng ngày gian nan nhất và bắt đầu có khả năng sản xuất hàng hóa. Hàng trăm nghìn cây sâm đang được chăm sóc nuôi trồng, mỗi năm đã đủ năng lực để có thể cung cấp hàng trăm ngàn hạt giống cũng như hàng trăm ngàn cây con khác. 
Các thành tựu nghiên cứu về hóa học và dược lý đã chứng minh giá trị điều trị và kinh tế của cây sâm Việt Nam, tạo ra một giống cây thuốc quý. Các nghiên cứu khoa học về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng đã mở ra khả năng mở rộng diện tích trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cho người dân để cây sâm trở thành cây trồng chính, có khả năng phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào Xê Đăng một cách khả thi. Một cây mẹ sâm Việt Nam trong vườn giống gốc có thể cho trung bình từ 30-40 quả giống. Hiện nay giá cây giống 1 tuổi khoảng 40.000 đồng/cây và giá hạt giống khoảng 10.000 đồng/hạt. Mỗi hécta sau 6 - 7 năm trồng có thể thu được 1 tấn củ. Giá dược liệu trung bình là 40 - 50 triệu đồng/kg củ tươi và 2 triệu/kg lá tươi.
Cây sâm Việt Nam, một loài mới của khoa học, còn ẩn chứa nhiều bí mật chưa được biết đến. “Cần phải giữ được sâm với ADN nghìn năm của nó” - lương y Đào Kim Long nói với tôi lúc chia tay.

Loading...

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Xe máy chìm nghỉm trong mưa lớn ở Sài Gòn