Ngoại tệ nằm ở đâu để mà thu hút?

LĐ - 177 Lan Hương - Tuấn Thành

Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ muốn bán trong nước chỉ chủ yếu trông chờ vào lượng ngoại tệ mà ngân hàng thương mại (NH) huy động được. Việc phát hành này là khả thi vì các NH có tiềm lực ngoại tệ chắc chắn sẽ mua TPCP do việc mua này đem đến cho NH lãi suất cao hơn nhiều so với việc đem ngoại tệ dư thừa đi gửi ở ngân hàng nước ngoài.

Bộ Tài chính vừa cho biết việc phát hành 3 tỉ USD trái phiếu quốc tế của Chính phủ đang tạm thời phải hoãn lại do diễn biến thị trường thế giới không thuận lợi. TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nêu ý kiến nên huy động trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (trong bài này viết tắt là TPNT) trong nước vì hiện đang có một lượng ngoại tệ nhàn rỗi trong dân cư rất lớn.

Về lý thuyết, đề án này khả thi. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nguồn ngoại tệ đang nằm ở đâu để mà thu hút? Hiện có 2 nguồn có thể huy động: thứ nhất, ngoại tệ tiền mặt đang nằm “trong két” và đang trong lưu thông. Thứ hai, tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ ở NH.

Ngoại tệ nằm trong dân chúng được cất trữ “nằm chết” trong két thực tế không nhiều, nhưng lượng tiền mặt ngoại tệ đang luân chuyển trong lưu thông được đánh giá là rất lớn. Lượng ngoại tệ này phục vụ chủ yếu cho nền kinh tế ngầm (nơi mà tất cả các hoạt động thương mại được tiến hành mà không liên quan đến thuế, luật hoặc các quy định thương mại).

Các quốc gia luôn tồn tại hai nền kinh tế, một kinh tế chính thức và kinh tế “ngầm”. Không nằm ngoài ngoại lệ, Việt Nam cũng tồn tại song song 2 loại hình kinh tế nói trên. Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí International Journal of Economics and Finance của Tiến sĩ Võ Hồng Đức (thuộc Đại học Mở TP.HCM và là thành viên của Cơ quan Điều hành Kinh tế Tây Úc) đã ước tính quy mô của nền kinh tế ngầm Việt Nam đến năm 2014 vào khoảng 27%, thuộc hàng cao so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á (ngoại trừ Singapore và Brunei vì không có thông tin so sánh). Điều đáng ngại hơn là tốc độ gia tăng quy mô kinh tế ngầm của Việt Nam là nhanh nhất trong giai đoạn 1999-2014, tăng gần gấp đôi kể từ năm 1999. Vì vậy, lượng ngoại tệ trong nền kinh tế ngầm chắc chắn cũng ở quy mô lớn, lợi nhuận nhiều, không dễ dùng LS huy động cao để thu hút được.

TPNT muốn bán trong nước chỉ còn chủ yếu là trông chờ vào lượng ngoại tệ mà NH huy động được (từ kiều hối, thu nhập của lao động xuất khẩu, và việc bán tài sản của cá nhân hay tổ chức thông qua việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài). Theo TS. Lê Xuân Nghĩa thì phương án thực hiện huy động ngoại tệ bằng trái phiếu là các NH huy động ngoại tệ trong dân và NH mua trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ, sau đó Chính phủ bán ngoại tệ đó cho NHNN để lấy nội tệ.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2016, vốn huy động bằng ngoại tệ tăng 9,1% so cùng kỳ. Từ năm 2014 đến nay, vốn huy động ngoại tệ dao động chiếm từ 16% đến 18%/tổng vốn huy động của hệ thống ngân hàng với số dư (quy đổi ra VND) khoảng 540 nghìn tỉ đồng. Khối các NHTM Nhà nước có tỉ trọng vốn huy động ngoại tệ lớn nhất.

Số vốn ngoại tệ huy động được, chủ yếu để cho vay nền kinh tế. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây trong bối cảnh tín dụng ngoại tệ giảm, các NH dùng một phần ngoại tệ huy động được đi gửi nước ngoài. Tháng 4 vừa rồi, ông Tô Huy Vũ, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ngân hàng Nhà nước khẳng định hệ thống có 7,3 tỉ USD tiền gửi ra nước ngoài và các khoản vay trả nợ nước ngoài ngắn, trung dài hạn của nền kinh tế.

Lãi suất tiền gửi ở NH nước ngoài chắc chắn nhỏ hơn lãi suất cho vay của NH nước ngoài. Việt Nam đang thiếu vốn, Chính phủ phải vay hoặc phát hành trái phiếu với lãi suất cao, trong khi các NH lại phải đem nguồn tiền đi gửi với lãi suất rẻ thì vô lý. Nên việc nghiên cứu để huy động TPNT bằng nguồn vốn này là rất cần thiết.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Hồng Hà
Những năm qua NHNN đã có nhiều cơ chế, chính sách tái cơ cấu lại hệ thống NH trong cả nước nhằm ổn định thị trường tiền tệ, nó có tính chất sống còn cho toàn nền kinh tế và cả chế độ, trong đó phải ghi nhận sự ổn định của tỷ giá và thị trường tiền tệ qua nhiều năm, đồng nội tệ ngày càng có giá. Người dân rất phấn khởi khi được làm ăn trong một mội trường ổn định về tiền tệ, tuy nền KT bị khủng hoảng, làm ăn có khó khăn, lãi lời không nhiều, nhưng đồng nội tệ và tỷ giá ổn định, đã làm cho các DN và người dân yên tâm hơn trong đầu tư KDSX, tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống XH, và cũng từ đó người dân mới yên tâm gửi tiền vào NH. Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tiền tệ không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái, và người dân tự hỏi tại sao NHNN lại đưa LS tiền gửi Đôla về 0% ?, phải chăng đây là sách lược ? trong khi đó năm 2016 ở Mỹ FED đã tăng LS huy động lên 0,25%-0,5% từ nay cho đến hết năm 2017. Việc huy động mọi nguồn vốn tập trung cho công cuộc PT KT-XH là hết sức cần thiết, nhất là nguồn vốn trong nước, trong khi CP phải vay ngoại tệ từ nước ngoài với LS từ 4% đến 4,8%/năm, vậy có phải giữa LS huy động trong nước và LS vay ngoại tệ từ nước ngoài có sự mâu thuẩn ? và cũng từ CS này mà một lượng lớn ngoại tệ được chuyển ra nước ngoài để hưởng lãi, Liệu có nhóm lợi ích nào hưởng lợi trong CS này của NHNN ?. Nên chăng NHNN cần điều chỉnh LS huy động ngoại tệ nhằm thu hút nguồn ngoại tệ trong nước phục vụ cho công cuộc XD và PT KT đất nước.
Trả lời - -
Hương Ly
Đưa LS huy động USD về 0% là bóp chết nguồn huy động ngoại tệ, hiện các NH thu được lãi lớn từ khoản ngoại tệ mà các NH huy động trước đó, không ai dại gì lại mang ngoại tệ cho NH cầm hộ mà chẳng có lợi nhuận gì. Vì thế, việc huy động trái phiếu ngoại tệ sẽ gặp khó khăn, vì người dân sẽ găm giữ ngoại tệ, hoặc đầu tư kinh doanh trong nước hoặc gửi NH nước ngoài sẽ có lãi hơn là gửi vào NH trong nước.
Trả lời - -
Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Điện đàm với lãnh đạo Đài Loan, Trump có nguy cơ chọc giận Trung Quốc