Bốn điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng LĐ

LĐ - 241 Trung Hiếu (VPTVPL Báo Lao Động)
Ảnh minh họa - Nguồn: IE

Hai vụ kiện lao động đòi quyền lợi, được toà án chấp nhận của công nhân tại Đà Nẵng mới đây, đã buộc giới chủ quan tâm hơn đến vai trò của luật trong việc hành xử với công nhân lao động. 

Ông Trần H, chủ một doanh nghiệp chế biến thuỷ sản ở miền Trung hỏi về điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng với NLĐ mà không phạm luật. Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012, về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Theo đó, NSDLĐ chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong ba trường hợp sau: NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ; bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 6 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết HĐLĐ; và cuối cùng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc. Ngoài ra NSDLĐ còn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động do thực hiện nghĩa vụ quân sự; bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; lao động nữ mang thai hoặc các trường hợp khác do hai bên thoả thuận.

Trong trường hợp không có căn cứ để có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thì phía công ty có thể tiến hành thỏa thuận và việc thỏa thuận các điều kiện chấm dứt hợp đồng với hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Thoả thuận này phải được xác lập bằng văn bản. Điều 47 BLLĐ có quy định cụ thể về trách nhiệm của NSDLĐ khi chấm dứt HĐLĐ...

Hãy liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 19008088 để nhận được câu trả lời nhanh chóng, kịp thời hoặc gửi email cho chúng tôi: tuvanphapluat@laodong.com.vn hoặc đến 51 Hàng Bồ, Hả Nội và 39 Trương Định, P6, Q3, TPHCM để được Luật sư tư vấn trực tiếp.

Clip Luật sư nói về hành vi sử dụng súng hơi tự chế - Nguồn: Tuổi trẻ:

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Ha Van Loc
Anh chi oi tu van dum em. Em dang lam o Cong ty lAN HAM 2. Het hop dong ngay 15/09/2016 ma Cong ty khong thong bao la cat hop dong hay khong. Den 14/10/2016 thi keu len cho nghi viec. Nhu vay co vi pham luat khong a?
Trả lời - -
Luật sư Lại Xuân Cường - Văn phòng Luật sư Quốc Thái trả lời:
Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 thì Hợp đồng lao động chấm dứt khi hết hạn. Tuy nhiên theo Khoản 1 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 thì it nhất 15 ngày trước ngày Hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động. Như vậy Công ty bạn đã vi phạm trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Bạn có thể làm đơn đến lãnh đạo công ty, công đoàn hoặc phòng Lao động thương binh và xã hội địa phương để được hỗ trợ giải quyết. Hãy liên hệ tổng đài tư vấn luật miễn phí 19008088 để nhận được câu trả lời nhanh chóng kịp thời hoặc gửi email cho chúng tôi: tuvanphapluat@laodong.com.vn hoặc đến 51 Hàng Bồ, HN và 39 Trương Định, P6, Q3, TPHCM vào thứ 3, thứ 6 hàng tuần để được tư vấn trực tiếp.
Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Top 10 việc làm HOT, không thể bỏ qua ngày hôm nay 6.12