TRẢ LỜI: Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật LĐ năm 2012 về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng LĐ, thì: 1.Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người LĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ;
b) Người LĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn. Khi sức khỏe của người LĐ bình phục, thì người LĐ được xem xét để tiếp tục giao kết HĐLĐ;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng LĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
d) Người LĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của bộ luật này.
Như vậy, người sử dụng LĐ không có quyền chấm dứt HĐLĐ khi người LĐ đủ tuổi nghỉ hưu mà chưa đủ thời gian đóng BHXH.
Mặt khác, Bộ luật LĐ năm 2012 tại khoản 4, Điều 36 quy định như sau: “Trường hợp chấm dứt HĐLĐ: Người LĐ đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của bộ luật này”. Và theo Điều 187 về tuổi nghỉ hưu thì: Người LĐ bảo đảm điều kiện về thời gian đóng BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.
Như vậy, theo quy định tại Bộ luật LĐ 2012, việc chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn là đương nhiên đối với người LĐ đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu. Trường hợp của Cty bạn chưa đáp ứng đủ 2 điều kiện theo quy định nêu trên thì việc chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn với người LĐ là trái quy định pháp luật.
Theo Điều 42 Bộ luật LĐ 2012, người sử dụng LĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ phải nhận người LĐ trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết và phải trả tiền lương, BHXH, BHYT trong những ngày người LĐ không được làm việc, cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương theo HĐLĐ.
Luật sư Phạm Thị Bích Hảo
(Cty luật TNHH Đức An)