Nên làm gì khi công ty không chịu đóng BHXH?

LĐ - 58 Q. HÙNG - N. DƯƠNG
Chia sẻ

Bạn đọc có địa chỉ facebook: V.N hỏi: “Tôi đang làm việc ở huyện Củ Chi (TPHCM). Tôi đã làm được 8 tháng nhưng Cty không đóng BHXH cho công nhân. Tôi nên làm gì?”

- Luật sư Lại Xuân Cường - Văn phòng luật sư Quốc Thái, Đoàn luật sư TP. Hà Nội trả lời: Nếu giữa bạn và công ty có hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ đủ 3 tháng trở lên, thì căn cứ khoản 1, Điều 2 Luật BHXH năm 2014, các bạn thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Theo Điều 21 Luật BHXH năm 2014 thì công ty có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động (NLĐ). Việc công ty không đóng BHXH cho các bạn là vi phạm quy định pháp luật. Trước hết, các bạn nên làm đơn gửi đến ban lãnh đạo công ty để yêu cầu công ty đóng BHXH đầy đủ. Nếu công ty vẫn tiếp tục không đóng BHXH thì các bạn có thể làm đơn gửi tới phòng LĐTBXH hoặc LĐLĐ huyện Củ Chi nhờ can thiệp để bảo vệ quyền lợi, hoặc có thể khởi kiện công ty ra TAND huyện Củ Chi để được giải quyết.

Bạn đọc có số điện thoại 0976569xxx gọi đến đường dây nóng của Văn phòng TVPL Báo Lao Động hỏi: “Tôi tham gia BHXH từ tháng 1.2015 đến tháng 1.2016 thì ngừng. Tôi đi làm lại từ tháng 5.2016 cho một công ty may của Hàn Quốc tại Bình Dương nhưng không được công ty đóng BHXH. Hiện tôi đã có bầu 3,5 tháng. Bây giờ công ty mới đóng BHXH cho tôi thì khi sinh con, tôi có được hưởng chế độ thai sản không?”

- Văn phòng TVPL Báo Lao Động trả lời: Điểm a, khoản 1, Điều 2, Luật BHXH quy định về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc như sau: a) Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; Điều 31 Luật BHXH quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau: 1. NLĐ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Lao động nữ mang thai; b) Lao động nữ sinh con; c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; d) NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi; đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản; e) Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con.

2. NLĐ quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 điều này phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. 3. NLĐ quy định tại điểm b khoản 1 điều này đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. 4. NLĐ đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều này mà chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 6 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của luật này.

Theo đó việc công ty không đóng BHXH cho bạn là sai. Bạn có quyền yêu cầu công ty phải truy đóng BHXH cho bạn đầy đủ. Trong trường hợp công ty truy đóng BHXH cho bạn mà tính đến thời điểm bạn sinh con nếu đã đóng BHXH đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh, bạn sẽ được hưởng chế độ thai sản. Còn không bạn sẽ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vũ Trường
Xin kính chào TVPL báo Lao Động, tôi xin hỏi về hợp đồng lao động. Tôi làm việc cho công ty tư nhân và có ký hợp đồng không xác định thời hạn, trong hợp đồng có ghi từ ngày 1 đến ngày 5 đầu tháng là thanh toán lương, nhưng đến nay đã chậm gần hai tháng và có khi lên đến 4-5 tháng mà công ty không có trả tiền lãi gì hết. Giờ tôi đang muốn kiếm một công việc khác. Vậy tôi muốn chấm dứt hợp đồng bao nhiêu ngày khi mà công ty đang nợ lương. Xin nhờ Báo Lao Động tư vấn giúp tôi.
Xin chân thành cảm ơn
Trả lời - -
Luật sư Đặng Thị Tâm - Văn phòng Luật sư Quốc Thái trả lời:
Theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau: Theo quy định tại khoản 3, Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: Người lao động làm việc theo hợp lao động không xác định có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp lao động lao động nữ mang thai có thể chấm dứt sớm hơn theo quy định tại Điều 156. Khi bạn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty đúng pháp luật thì yêu cầu trả lương là quyền lợi của bạn và là nghĩa vụ bắt buộc với công ty. Nếu công ty vẫn nhất quyết không chi trả tiền lương khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết. Hãy liên hệ tổng đài tư vấn luật miễn phí 19008088 - đường dây nóng: 0961360559 để nhận được câu trả lời nhanh chóng kịp thời hoặc gửi email cho chúng tôi: tuvanphapluat@laodong.com.vn hoặc đến số 6 Phạm Văn Bạch, HN và 39 Trương Định, P6, Q3, TP HCM vào thứ 3, thứ 6 hàng tuần để được tư vấn trực tiếp.
Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Cái kết đắng cho ảo thuật gia rởm lừa sờ ngực phụ nữ Trung Quốc nóng nhất hôm nay