Bạn Lê Ngọc Toàn (143/44 Nguyễn Văn Nghi, Gò Vấp, TP.HCM, E-mail: toalengoc34@yahoo.com.vn):

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Bộ luật Lao Động (BLLĐ) và Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, ngày 09/5/2003, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động (HĐLĐ), thì HĐLĐ được tạm hoãn thực hiện trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc các nghĩa vụ công dân khác do pháp luật quy định;

b) Người lao động bị tạm giữ, tạm giam;

c) Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận.

Trong đó, các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động do hai bên thoả thuận như:

- Người lao động xin đi học ở trong hoặc ngoài nước;

- Người lao động xin đi làm việc có thời hạn cho tổ chức, cơ quan, cá nhân ở trong nước hoặc ngoài nước;

- Người lao động được chuyển làm cán bộ chuyên trách trong các hội đồng của doanh nghiệp Nhà nước;

- Người lao động xin nghỉ không hưởng tiền lương để giải quyết những công việc khác của bản thân.

Như vậy, thỏa thuận được ghi trong HĐLĐ: “Công ty có quyền cho tạm hoãn công việc” là vi phạm điều cấm của pháp luật, bị vô hiệu.

Trường hợp ngừng việc của bạn, không do lỗi của người lao động, được trả lương theo quy định tại Điều 62 BLLĐ:

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc vì những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

Luật sư Nguyễn Văn Sinh, Công ty Luật TNHH YouMe, Hà Nội