NGHỊCH LÝ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG:

Học cao càng dễ thất nghiệp

LĐ - 196 Thái Linh

Theo báo cáo của Bản tin cập nhật thị trường lao động, qúy II/2016, cả nước có 1.088.700 nghìn người trong độ tuổi lao động thất nghiệp, trong đó số người có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, đại học trở lên có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất. Nghịch lý càng học cao càng thất nghiệp vẫn tiếp diễn dù các cơ quan hữu quan đã không ngừng cảnh báo.

Lao động trình độ đại học, cao đẳng thất nghiệp cao nhất

Theo bản tin, trong quý II/2016, số người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp tăng 16.400 người, tỉ lệ thất nghiệp tăng 0,04 điểm phần trăm so với quý I/2016. Trong số những người bị thất nghiệp, số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật thất nghiệp là 418.200 người. Nhóm có trình độ đại học trở lên thất nghiệp nhiều nhất với 191.300 người. Tiếp đó số người thất nghiệp của nhóm cao đẳng chuyên nghiệp và trung cấp chuyên nghiệp cao, tương ứng 94.800 người và 59.100 người.

Vì sao nước ta đang từng bước phấn đấu nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo để hội nhập trong khi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thất nghiệp cao, ông Đào Quang Vinh, Trưởng Ban biên tập Bản tin Cập nhật thị trường lao động Việt Nam lý giải: “Tỉ lệ lao động qua đào tạo ở nước ta hiện chỉ chiếm trên 20% - tỉ lệ thấp so với nhiều nước. Tuy nhiên, nhóm cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp thất nghiệp nhiều cho thấy hiện đang có độ vênh giữa cung - cầu. Chúng ta thừa nhóm lao động thị trường không cần, trong khi nhóm về kỹ thuật, chuyên gia công nghệ thì rất thiếu”.

Học cao càng dễ thất nghiệp ảnh 1
Dù tỉ lệ lao động qua đào tạo thất nghiệp nhiều nhưng tâm lí người học vẫn muốn “làm thầy” hơn “làm thợ”. Ảnh: HN 

Cải tiến, đổi mới toàn diện

Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Doãn Mậu Diệp thừa nhận thực tế khó khăn giữ nỗ lực muốn nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo với tỉ lệ lao động qua đào tạo thất nghiệp cao. “Nghị quyết số 29-NQ/TW khẳng định sự chấp nhận của thị trường là thước đo hiệu quả của giáo dục đào tạo. Ở đây, có sự không ăn khớp giữa mục tiêu đào tạo và sử dụng lao động qua đào tạo. Trước tình hình đó, đòi hỏi sự cải tiến, đổi mới đồng bộ: Trong công tác dự báo nhu cầu thị trường, công tác kế hoạch hóa nhu cầu đào tạo. Dựa vào tín hiệu thị trường xây dựng kế hoạch đào tạo chứ không phải dựa vào giảng viên, diện tích trường… để xác định chỉ tiêu tuyển sinh như hiện nay đang làm”, ông Diệp nhấn mạnh.

Để giải quyết tình trạng trên, các hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề có nhiều cải cách cho phù hợp theo hướng đổi mới dự báo nghiên cứu thị trường, công tác đào tạo. Trước mắt, những cải cách đang phát huy được hiệu quả như tỉ lệ học sinh, sinh viên học các chuyên ngành kỹ thuật tăng lên, số học sinh thi đại học giảm đi, số học sinh tham gia xét tuyển tăng lên để có thể học đúng ngành nghề mà doanh nghiệp đang cần tuyển dụng.

Hiện nay, số người có việc làm là 53.240.000 người. Chất lượng lao động thể hiện qua tỉ lệ đào tạo nói chung cải thiện chậm (chiếm 20,62% lực lượng lao động). Trong đó, nhóm đại học trở lên, cao đẳng, cao đẳng chuyên nghiệp có trình độ tăng lên, nhưng ở mức không cao. Mặt khác, trình độ chuyên môn của nhóm trung cấp nghề và trung cấp nghề chuyên nghiệp giảm lần lượt 7,26% và 2,24%.

Theo ông Đào Quang Vinh, con số trên phản ánh rõ rệt chất lượng đào tạo ở nước ta. Hiện nay đang có nhiều lao động có trình độ đại học, cao đẳng, nhưng nhiều người chưa đáp ứng được nhu cầu thực sự của nhà tuyển dụng. Điều này được phản ánh rất rõ trong báo cáo của các nhà tuyển dụng khi họ gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có trình độ cao, đáp ứng được yêu cầu họ đưa ra.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Su-35 tiêu diệt mục tiêu trên không và trên biển