Chuyển biến từ nội dung thi đua...

Nét mới trong phong trào thi đua thể hiện rõ nét ở chỗ đã lồng ghép, liên kết phối hợp chặt chẽ giữa LĐLĐ địa phương, CĐ ngành T.Ư với chính quyền trên các công trình trọng điểm quốc gia như trên công trình xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La, Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Hình thức ký giao ước thi đua các cụm, tỉnh, TP, ngành tạo khí thế thi đua hào hứng, tinh thần trách nhiệm cao cho từng tập thể và mỗi cá nhân. Thông qua phong trào thi đua, CNVCLĐ đã phát huy sáng kiến, sáng tạo, vượt qua khó khăn, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu KT-XH.

Năm qua, ngành xây dựng gặp rất nhiều khó khăn trong SXKD, nhưng các cấp CĐ từ ngành đến cơ sở đã chủ động phối hợp cùng chính quyền tổ chức được 335 đợt thi đua, thu hút rất đông CNVCLĐ tham gia. Tại Hà Nội, chỉ từ phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” năm 2011 do LĐLĐ Hà Nội phát động, đã có 23.333 đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến kinh nghiệm của nữ CNVCLĐ, góp phần tháo gỡ khó khăn trong SXKD và phục vụ giảng dạy của các trường. Ở Nghệ An, các phong trào thi đua được LĐLĐ huyện, thành thị, CĐ ngành, CĐCS phát động phù hợp với đặc thù từng ngành, địa phương như thi đua “Xây dựng nông thôn mới” của CĐ ngành NNPTNT, ngành y tế là “Thực hiện 12 điều y đức và xây dựng bệnh viện phát triển toàn diện”, ngành GTVT có 8 chữ vàng về thi đua “Chất lượng, tiến độ, an toàn, tiết kiệm”. Cũng qua thi đua mà nhiều CNVCLĐ được đứng trong hàng ngũ của Đảng như ở TPCHM, năm 2011 các cấp CĐ giới thiệu 6.990 nữ CNVCLĐ với Đảng và đã kết nạp được 2.760 chị...

Khắc phục bệnh thành tích

Theo nhận xét của nhiều CB CĐ làm công tác thi đua, khen thưởng: Trong 3 năm qua, các phong trào thi đua của CĐ đã tập trung vào nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản pháp luật, hoạch định chính sách, CCHC, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đáng chú ý, công tác khen thưởng tiếp tục có những chuyển biến, chính xác, kịp thời, góp phần khắc phục bệnh thành tích và hình thức trong thi đua. Việc xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong CNVCLĐ được chú trọng hơn...

Những nhận xét nói trên xuất phát từ sự đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức CĐ cùng đội ngũ CB CĐ, nhất là CĐCS. Để đạt danh hiệu “CĐCS vững mạnh”, định kỳ hằng năm các cấp CĐ tổ chức kiểm tra, đánh giá, phân loại hoạt động của CĐCS. Nhờ đó, tỉ lệ CĐCS đạt tiêu chuẩn vững mạnh ở các khu vực đều vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Ở Bắc Giang, năm 2011 LĐLĐ tỉnh đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị đăng ký xây dựng CĐ vững mạnh. Kết quả, 90% số LĐLĐ huyện, thành phố, 100% CĐ ngành, CĐ Viên chức, CĐ các KCN và CĐ giáo dục huyện, TP đạt vững mạnh xuất sắc. Bằng biện pháp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBCĐ, LĐLĐ Quảng Ninh đã nâng dần chất lượng hoạt động CĐ cho đội ngũ của mình. Bởi thế, năm 2011, Quảng Ninh có 85% số CĐCS khu vực nhà nước và 45% số CĐCS ngoài nhà nước đạt vững mạnh, trong đó 15% số CĐCS vững mạnh xuất sắc.