Ngân hàng lãi khủng?
Báo Thanh Niên ngày 25.6.2012 có bài “Ngân hàng lãi khủng do đâu?”. Tương tự Tuổi Trẻ ngày 18.6.2012 giật tít “Doanh nghiệp thoi thóp, ngân hàng lãi khủng”. Từ chính số liệu mà 2 bài báo trên đưa ra hãy xem các ngân hàng thật có lãi khủng hay là bị lỗ thật nhưng báo lãi giả.
Cả 2 bài báo dựa vào đánh giá được cho là của Tổng cục Thuế, theo đó các doanh nghiệp khó khăn, doanh thu và lợi nhuận sụt giảm, thậm chí thua lỗ phá sản, còn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh (chưa trừ trích lập dự phòng rủi ro) năm 2011 của hệ thống ngân hàng đạt khoảng 97.000 tỉ đồng, tăng gần 45% so với năm 2010. Nếu trừ đi các khoản trích lập dự phòng rủi ro, tốc độ tăng lợi nhuận cũng lên tới 30%.
Mấu chốt ở đây là, 97 ngàn tỉ là lợi nhuận gộp và chưa trừ trích lập dự phòng rủi ro.
Vậy dự phòng rủi ro là gì? Nôm na là ngân hàng cho khách hàng (doanh nghiệp và dân cư) vay nhưng khách hàng không trả được nên sinh ra nợ xấu mà một phần nợ xấu không thể thu hồi được (mất trắng) nên ngân hàng phải trích từ lợi nhuận gộp để bù cho khoản mất trắng hay có thể mất đó và phần còn lại mới là lợi nhuận trước thuế. Cho nên không biết dự phòng rủi ro là bao nhiêu mà nói ngân hàng lãi khủng là hoàn toàn vô nghĩa.
 |
| Kinh doanh ngân hàng là hoạt động vào loại rủi ro nhất (ảnh mang tính chất minh hoạ) |
Tổng dư nợ của toàn bộ hệ thống ngân hàng trong năm 2011 khoảng 2,6 triệu tỉ đồng (năm nay cỡ 2,8 triệu tỉ). Tỉ lệ nợ xấu khoảng 3,3% (theo đánh giá của nhiều tổ chức và chuyên gia độc lập, tỉ lệ nợ xấu cao hơn mức ngân hàng nhà nước công bố 3-4 lần) con số thực tế hơn cũng được nói đến cỡ 7%. Nếu tính với 3,3% thì nợ xấu khoảng 86 ngàn tỉ đồng, với 7% là khoảng 180 ngàn tỉ, còn nếu tỉ lệ là 10% thì nợ xấu năm 2011 khoảng 260 ngàn tỉ đồng!
Nợ xấu được phân ra các loại khác nhau theo khả năng thu hồi và tương ứng buộc phải trích lập dự phòng từ 2%, 25%, 50% và 100% của khoản nợ xấu đó tùy theo mỗi loại nợ xấu. Không có số liệu của từng loại nợ xấu không tính được con số dự phòng rủi ro.
Giả sử tỉ lệ trích chung của toàn hệ thống là 30% nợ xấu thì khoản trích dự phòng rủi ro là 26 ngàn tỉ (hay 54 hoặc 78 ngàn tỉ), trong trường hợp đó lợi nhuận “thật” chỉ cỡ 71 ngàn tỉ (hay 43 hoặc 19 ngàn tỉ). Nếu tỉ lệ trích dự phòng lên đến 40% thì lợi nhuận chỉ còn nhỏ hơn hay thậm chí lỗ.
Gần đây người ta bàn tán nhiều về việc Ngân hàng Nhà nước dự kiến lập công ty mua bán nợ để giải quyết 100 ngàn tỉ nợ xấu, một kế hoạch mà tôi ủng hộ trong một bài viết trước, trong khi nhiều báo đặt câu hỏi sao lại giải cứu các ngân hàng? Điều đó cho thấy nếu tính với 7% thì có thể thực tế hơn, nói cách khác lợi nhuận trong năm 2011 của hệ thống ngân hàng có lẽ khoảng 43 ngàn tỉ. Trong khi đó tổng vốn điều lệ của 40 ngân hàng thương mại trong nước là 259,3 ngàn tỉ vào 1.2012 (nếu tính theo con số này thì lợi nhuận là 16,6% còn lạm phát năm 2011 ở mức 18,6% hay hệ thống ngân hàng đã không bảo toàn được giá trị của vốn!). Nếu nhìn như thế thì lợi nhuận chẳng có gì là khủng cả! Trong mọi trường hợp không thể dùng lợi nhuận gộp để đánh giá.
Theo Tuổi Trẻ, dựa trên 256.000 tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp, Tổng cục Thuế cho biết tổng chi phí của số doanh nghiệp này là 7,2 triệu tỉ đồng trong đó họ phải chi 466.000 tỉ đồng cho lãi vay.
Nếu viết 7,2 triệu tỉ đồng theo dạng tỉ thì hơi dài, nhưng sao không ghi chi phí lãi vay là 0,47 triệu tỉ cho gọn? Để 466.000 tỉ ấn tượng hơn, nhà báo hiểu tâm lý người đọc lắm, nhưng thủ thuật trình bày thế liệu thế có khách quan? Nếu lấy 0,47 triệu tỉ chia cho 7,2 triệu tỉ ta có chi phí lãi vay bằng 6,5% của tổng chi phí! Cách trình bày khác nhau tạo cho bạn đọc cảm nhận khác nhau.
Cũng nên đặt câu hỏi nợ xấu do đâu mà phát sinh? Do khách hàng không trả được nợ, do ngân hàng cẩu thả khi xét duyệt cho vay. Ngân hàng phải hiểu doanh nghiệp và ngược lại. Không nên chỉ trách phía bên kia, mà cũng nên tự trách mình. Chính vì thế hội chứng “đả” ngân hàng là có hại.
Nhưng có thể thấy gì qua “hội chứng” trách ngân hàng? Một mặt đúng là các ngân hàng đáng trách thật, họ cần minh bạch hơn, họ cũng không nên chạy đua về tiền lương, không nên làm đẹp con số của mình, và nên thông tin kịp thời cho công chúng. Tuy vậy, các ngân hàng cũng là các doanh nghiệp và kinh doanh ngân hàng là hoạt động vào loại rủi ro nhất. Sự phát triển lành mạnh và sự an toàn của hệ thống ngân hàng có vai trò quyết định đến hoạt động kinh tế của cả nước. Chính vì thế sự minh bạch thông tin, tính chính xác của thông tin là nhân tố quyết định tạo niềm tin giữa các khách hàng và các ngân hàng. Thông tin không đầy đủ, không chính xác gây khó khăn cho các doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước và rất nguy hại là nó hủy hoại lòng tin.
Một mặt Nhà nước phải buộc các ngân hàng và doanh nghiệp nói chung phải minh bạch thông tin và tạo ra các khuyến khích để họ cung cấp thông tin chính xác hơn. Có rất nhiều chính sách tạo ra các khuyến khích để doanh nghiệp và ngân hàng làm méo thông tin. Mọi công cụ hành chính, thí dụ quy định trần lãi suất, thường là vậy. Với tình hình lạm phát như hiện nay, cần sớm bỏ trần lãi suất cả vì lý do méo mó thông tin này nữa.