Giảm sinh ngoạn mục

Cho đến những năm 70, mức sinh của VN rất cao: Tổng tỉ suất sinh (TFR) ở mức trên 6 con/phụ nữ. Khoảng đầu thập niên 90 đến nay, mức sinh đã giảm nhanh: Trong 10 năm (1992-2002), TFR hầu như chỉ còn một nửa. VN đã đạt mức sinh thay thế vào khoảng đầu thiên niên kỷ mới. Đến năm 2012, TFR đã đạt 2,05 con/phụ nữ. Trước khi Pháp lệnh Dân số 2003 ra đời, quy mô dân số nước ta năm 2002 là 79,54 triệu người, đến 1.4.2012 đạt 88,78 triệu người. Dự kiến, ngày 1.11.2013, dân số VN sẽ chính thức đạt mốc 90 triệu người. Như vậy mục tiêu Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản mà Chính phủ đặt ra đến năm 2015 quy mô không vượt quá 93 triệu người là khả thi.

Theo PGS-TS Phạm Đại Đồng – Viện Dân số và các vấn đề xã hội - sự giảm sinh ngoạn mục ở VN trong 20 năm qua, đặc biệt giai đoạn 1992-2002 đã đặt ra câu hỏi: Vì sao VN, cho đến cuối thế kỷ 20 vẫn là một nước “tam nông” (nông nghiệp, nông thôn và nông dân), thu nhập thấp, chưa sản xuất được phương tiện tránh thai lại đạt được mức sinh thay thế trước 39 nước có trình độ phát triển cao hơn? Đó là bởi có sự tác động mạnh mẽ của chính sách dân số ở VN. Theo các đánh giá, kết quả giảm sinh của VN  vượt trội so với trình độ phát triển.

Năm 2005, khi VN đạt mức sinh thay thế, theo báo cáo phát triển con người trong năm này, chỉ số phát triển con người (HDI) của VN mới đạt 0,704, thấp hơn HDI của 99 nước! Chính sách dân số cũng đã tác động mạnh mẽ đến việc thay đổi nhận thức về sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) và qua đó đến mức sinh. Chính sách DS-KHHGĐ của VN đã được ghi nhận thành công bởi mức sinh giảm hơn cả kỳ vọng.

Kéo dài cơ cấu “dân số vàng”: Thách thức lớn

Mới đây, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã yêu cầu Bộ Y tế khi xây dựng dự án Luật Dân số cũng như chính sách dân số phải có tầm nhìn xa, xây dựng hệ thống chính sách dân số hướng tới gia đình có 2 con. Cần duy trì và kéo dài giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” (số người trong độ tuổi lao động cao hơn số người phụ thuộc) đến năm 2061 - kỷ niệm 100 năm ngày Chính phủ Việt Nam ban hành quyết định đầu tiên về chính sách dân số.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu, cần có chính sách hỗ trợ gia đình có con tuổi mẫu giáo; tăng cường xây dựng khu vui chơi, giải trí cho nhân dân, trong đó chú trọng trẻ em và người cao tuổi. Việc duy trì lực lượng lao động ở một quy mô phù hợp là rất cần thiết, là một lợi thế của quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Phó Thủ tướng cũng lưu ý khi xây dựng chính sách dân số, cần dự báo xu hướng phát triển đất nước về kinh tê - xã hội, về những tiến bộ của khoa học-công nghệ, về môi trường cũng như về văn hóa, phong tục, tập quán, thói quen của người dân liên quan tới việc sinh con.

Theo truyền thống của người VN, con sẽ chăm sóc bố, mẹ lúc cao tuổi, vì thế ngành y tế cần phối hợp với ngành giáo dục đưa nội dụng hạnh phúc gia đình vào chương trình giảng dạy về giáo dục công dân, trong đó để trẻ em có ý thức ngay từ bậc học phổ thông, phấn đấu làm một công dân tốt, làm bố, mẹ tốt, làm con có hiếu trong gia đình sau này...

Theo nhận định của Bộ Y tế, nước ta là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 ở Đông Nam Á, tốc độ tăng dân số tuy đã giảm nhiều song quy mô dân số khá lớn. Chất lượng dân số thấp, tốc độ già hóa nhanh, mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề nóng...

Đặc biệt, việc tận dụng, kéo dài cơ cấu “dân số vàng” sẽ là một thách thức rất lớn.