Ký ức một hào

LĐCT - LĐCT Xuân Trần Chiến
Chia sẻ
Em bé theo mẹ đi chợ thời bao cấp. Ảnh: Lê Vượng

Mẹ tôi dắt hai chị em ra quầy phục vụ đầu phố. Tối già, hàng người xếp không dài và cũng trật tự. “Túi hàng Tết ô 43. Đỗ xanh, lá dong ô 19. A, lại cả chè Hồng Đào, thuốc Tam Đảo…”, mẹ nhìn tấm bảng phía sau quầy lẩm nhẩm, mở kim băng cài miệng túi áo bông ra so, cài lại rồi yên tâm đứng vào chỗ. Rét đậm, đèn đường lúc tắt lúc tỏ mà vẫn nườm nượp. Áo bông xanh công nhân, trấn thủ bộ đội, áo dạ lính cũ màu cứt ngựa… tối sẫm, khắc khổ. Vẫn có mấy cô xinh xinh diện len dạ sáng màu đầu uxi ngắn đầu Hồng Kông dài lượn sóng làm con phố mềm hẳn. Mai kia ra Cống Chéo Hàng Lược, hoa với người còn thi đẹp với nhau đến đâu.

“Tết thích thật! Không phải học”, tôi reo lên. Chị Hạnh cau có: “Mày có phải rửa lá đãi đỗ đâu. Buốt chết tay!”. Mẹ quay lại: “Mai Hân ra hàng gạo xếp hàng, Hạnh học xong sớm ra mua gạo nếp, cả bột mỳ làm bánh quy gai. Cẩn thận mất sổ gạo là chết”.

Tôi đi sau mẹ, lẩn mẩn kiểm túi hàng Tết. Bóng bì, hạt tiêu, kẹo lúc cúc, hộp mứt xanh đỏ… Túi nilon nhỏ tý có những hạt trong như thủy tinh, tôi chấm tay vào đưa lên miệng. “Ơ sao lại nếm mì chính”, mẹ bật cười. Cả đêm tôi xoay giở vì lợm giọng, không khác trong họng có miếng cá sống chả khạc ra được. Mỳ chính khó xơi thế mà sao lại quý giá, cho vài cánh bát canh ngọt hẳn, thật thế không. Lại vì ban nãy thấy Nhi xám ngắt, buồn xo bên đường, mắt không nhìn tai không nghe khi tôi “òa” vào chị.

Nhi hơn tôi một tuổi, con thầy Dũng dạy tôi lớp vỡ lòng(1) mấy tháng nay. Lớp ngay nhà thầy, chật chội, trò đông, đang viết bảng thầy quay xuống “tia” đúng con nói chuyện thằng búng chun. “Păng”, viên phấn bay xuống đúng mặt. Có lần là cả chiếc thước kẻ ba mươi phân bốn cạnh bốn màu, chả hiểu thầy tập luyện thế nào mà phi giỏi thế. Nhưng sau đó mẹ tôi, trong ban đại biểu phụ nữ góp ý: “Thầy Dũng tận tình, chữ đẹp, trò sáu tuổi mới mấy tháng đã đọc sắp thông viết sắp thạo là rất nhanh. Nhưng thầy đừng phi thước kẻo vào mắt ạ!”.

Một tháng nay không còn thấy cái lưng to bè, thay vào là cô Ngọc ốm yếu. Thấy bảo thầy bị dẫn đi đâu vì “thời Tây đi ngụy”. Lớp vẫn chỗ cũ nhưng không phải của nhà thầy nữa. Có lần mẹ khiến tôi hé vào xem vợ thầy ốm đau thế nào, thì cô, trông xanh như lọ thủy tinh, lẩm bẩm “có cầm súng đâu, chỉ trông kho thôi mà”.

Giờ nhớ ra cái nhìn của cô chả hướng vào đâu, như Nhi tối qua so ro. Nhi có biết vị mì chính lợm lợm thế nào…

***

Chiều nay, vì thành tích xếp hàng trong chiến dịch sắm Tết, tôi được theo bố đến cơ quan. Bố dẫn vào căn phòng có 5 cái tủ đầy sách. Cô Hường thư viện dắt ra cái bàn to tướng la liệt báo, chỉ một tờ khổ nhỡ in con gà trống, đuôi xanh đỏ vĩ đại choán hết bìa, hỏi “đọc được chữ này không?”.

“Thiếu niên tiền phong”, tôi nín thở vì hồi hộp, đọc tiếp: “Xuân Đinh Dậu”.

- Được đấy, cháu ngồi đây đọc nhé.

Tờ báo nhiều tranh ít chữ, mà chữ cũng to nên dễ đọc, có điều hơi chán là tôi không hiểu tất cả. Đọc to chắc dễ hiểu hơn. Bèn…

“Phần Lan là đất nước gần cực Bắc xa xôi phẩy khí hậu lạnh lẽo chấm người ta dùng chó để kéo xe trượt tuyết chấm sáng ra chú bé Pờ pờ pờ ét pét kờ kờ a ka phẩy cháu của ông già…”.

Tôi đang hổn hển rất to tên ông của Pờ pờ pờ thì nghe sau lưng tiếng đàn ông oang oác: “Cái ông Biểu dạy con thế nào để nó đọc sai hết. Lại còn chảy cả dãi”. Sợ hết hồn, tôi quay sang cô Hường cầu cứu, thấy cô chỉ cười tủm. Bèn hạ giọng xuống lí nhí đánh vần. Lại nghe: “Lần này thì đọc đúng rồi nhưng chả nghe thấy gì cả!”. Bèn đứng dậy chạy ra ngoài. Đúng là mình có lỗi, đọc kém thật. Nhưng như là cái người lớn này nhất định bắt nạt mình.

Tôi chui vào phòng vệ sinh. Nỗi sợ và xấu hổ làm nước mắt trào ra, không để ý xung quanh khai thối. Đã đến đoạn nức nở uất ức thì chú kia xuất hiện. “A thanh niên này mau nước mắt nhỉ. Chú Trác đùa ấy mà. Ra chú đền”.

Cơ quan trông ra hồ, nước màu xanh rêu trong trẻo, giữa có cái tháp màu trắng ngả sang xám. Từ chiếc loa tròn trên ngọn cây vẳng xuống điệu nhạc hùng dũng làm tôi phấn chấn hát theo. Ai kem, ai kem, kem một hào hai chiếc, một chiếc năm xu. Này chú bán kem, có rao thì rao cho khẽ, làm ầm lên thế điếc tai hàng xóm láng giềng(2)… “A thích kem hả”, chú Trác gọi anh đeo cái phích to tướng bảo lấy que kem đậu xanh. Trời rét không cản được vị ngon, ngọt vào tít sâu trong họng. Mải mút mát, tôi không biết áo mình thêm lem luốc vì kem dây, bên những vệt nước mắt.

- Cháu có biết sự tích về cái hồ này không? Là cái hồ này có chuyện gì hay ấy…

Chú Trác hỏi rồi kể. Ra ngày xưa có ông gì đó câu cá ở đây, được Rùa Thần cho thanh gươm có phép giết quân nước ngoài đến cướp nước ta, chiến thắng rồi trả lại gươm cho Thần. Tôi chăm chú ăn không để ý lắm, bất chợt hỏi: “Ngày xưa là ngày gì mà bao nhiêu chuyện đều “ngày xưa”? Chú bịa à?”.

- Vẫn còn tức chứ gì. Thôi tôi đền anh que nữa nhưng đau họng đừng trách nhé!

Tôi cầm que kem mới bỗng nhớ Nhi. Nhà “thành phần” tem phiếu hẻo, bố vắng mẹ ốm không áo mới với cả nồi cá kho với cả quy gai quy xốp, thì kem cũng được. Nghĩ vậy, tôi giấu chú Trác, lén xin cô Hường báo gói kem lại, mấy lượt dày cộp chắc không mất lạnh.

Sáng sau đến lớp sớm, ghé nhà Nhi, nghe bảo đã nghỉ học. Tôi không vào, đứng ngoài đưa thôi. Tay tôi trong cặp lùa phải đám ướt nhoẹt. Quyển “Vần vỡ lòng” dính choen choét, gói giấy báo mủn thành bột ướt. Tôi đứng như trời trồng trước mặt Nhi, chả biết lúng búng những gì, thấy chị có vẻ tức giận.

“Trời ơi con tôi”, mẹ thốt lên khi biết chuyện, rồi mở chạn gói ghém. “Phiếu thịt cắt ô 25 mua chân giò được một thành hai, con đem sang bù kem vậy”. Tôi đã ngượng lắm, chả dám, đâm mẹ sai chị Hạnh đi thay.

Chuyện này vào áp Tết Đinh Dậu 1957. Giờ mẹ tôi đã mất, thầy Dũng - về nhà sau vài tháng - và cô chắc cũng không còn, Nhi đi đâu không biết. Tròn sáu mươi năm rồi, còn lại ký ức ướt nhoẹt.

(1) Như lớp 1 bây giờ.

(2) Lời “chế” bài “Du kích ca” của Đỗ Nhuận.

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Những người “sống chung với mộ” ở nghĩa trang Bình Hưng Hòa