Theo Ủy ban chuyên trách các vấn đề liên quan đến lao động của Đài Loan, số lượng lao động Việt Nam “bỏ trốn chưa bị bắt” lên đến 19.878 người vào cuối tháng 10 năm 2013, phản ánh tỉ lệ gia tăng rất nhanh hàng năm ở mức 31,2%, rõ ràng nhằm trốn tránh tiền phạt nặng. 
Nếu làm một phép toán đơn giản, chẳng hạn mức lương trung bình ở Việt Nam vào khoảng 3,2 triệu đồng/tháng thì người vi phạm phải cật lực làm trong hơn 2 năm mà không chi tiêu vào việc ăn uống thì mới trả đủ khoản tiền trên. 

“Do xuất khẩu lao động là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, hình phạt hà khắc hơn đối với những lao động bỏ trốn được ban hành chủ yếu do áp lực quốc tế” - ông Zheng Yu, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Connecticut quan tâm tới Việt Nam nói với trang Asia Sentinel. 

“Tháng 8.2012, Hàn Quốc tạm dừng thỏa thuận song phương về tiếp nhận lao động Việt Nam do có quá nhiều lao động Việt Nam ở lại quá hạn bất hợp pháp tại Hàn Quốc. Mặc dù sự đình chỉ này được bãi bỏ gần đây, song cũng đã làm giảm công việc của hơn 10.000 người lao động từ Việt Nam - một cú sốc lớn đối với mảng xuất khẩu lao động của Việt Nam”.

Theo thống kê chính thức, hiện Việt Nam có hơn 500.000 lao động nước ngoài làm việc tại hơn 40 nước. Mỗi năm khoảng 80.000 lao động được gửi ra nước ngoài, với các điểm đến chủ chốt là Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản. 

Tại Đài Loan hiện có 122.000 lao động Việt Nam trong số 480.000 lao động nước ngoài ở đây. 20% trong số đó làm việc trong các lĩnh vực xã hội, chăm sóc sức khỏe và sản xuất kim loại. Gần 20.000 người Việt Nam đã bỏ trốn. 

“Pháp luật Việt Nam quy định mức phạt tối đa 4.500 USD và yêu cầu người lao động phải ký hợp đồng với công ty môi giới trước sự chứng kiến của Công an Việt Nam” - ông Peter Nguyen Van Hung, Giám đốc điều hành Văn phòng lao động di cư và cô dâu Việt Nam có trụ sở tại Đài Loan nói. 

“Tuy nhiên, vào ngày người lao động được đưa đi, bên môi giới thường ép họ phải ký vào một thỏa thuận khác quy định tổng chi phí lên đến từ 6.500 tới 7.500USD”. Đến lúc này, người lao động khó mà rút lui được nữa, bởi trước đó họ đã cầm cố các loại giấy tờ như chứng nhận quyền sở hữu nhà đất, ruộng vườn để nhận những khoản vay ngân hàng, đem nộp cho môi giới, làm hộ chiếu, mua vé máy bay và kiểm tra sức khỏe v.v… “Họ không có lựa chọn nào khác, nếu không sẽ mất toàn bộ số tiền đã chi”.

Theo ông Hung, những gì diễn ra tiếp theo mới kinh khủng. Sau khi người lao động đến nước bạn, chủ lao động có thể không sẵn sàng trả mức lương như công ty môi giới đã hứa hẹn, ngoài ra còn vô số trường hợp người lao động bị chủ lao động lạm dụng. Trong khi đó ở những nơi này tồn tại chợ đen cho người lao động bỏ trốn, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nhân công lớn trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, sản xuất. Người lao động trong tình trạng tuyệt vọng dễ dàng tin vào những thỏa thuận bằng miệng.

“Cách duy nhất để đối phó là bỏ trốn. Nhưng quyết định này thường làm người lao động tiếp tục rơi vào bẫy lạm dụng tiếp theo” - ông Hung nói và dự đoán số lao động Việt Nam bỏ trốn ban đầu có thể giảm sau khi Nghị định 95 ra đời, nhưng sau đó sẽ tăng nhanh bởi vấn đề cốt lõi là mọi việc chỉ được giải quyết ở bề nổi. 

Ông Hung nhất trí rằng Việt Nam muốn tạo ấn tượng tốt với các nhà chức trách quốc tế, trong trường hợp với Đài Loan là nhằm tiến tới việc dỡ bỏ hạn chế tiếp nhận người giúp việc từ Việt Nam sau một thập kỷ. Ông Hung và nhiều chuyên gia khác thừa nhận rằng phía Đài Loan đã tiến một bước dài trong vài năm gần đây. 

Thông thường, cách lựa chọn tiếp cận truyền thống vẫn là truy tìm người, như một vụ án vào mùa thu năm 2004 khi cảnh sát Đài Loan hợp tác với chính những người làm môi giới, là nguyên nhân chính dẫn tới cảnh đời cực khổ của 500 người lao động bị bắt giữ trong 1 tháng. Thêm 100 nhân viên môi giới khác rỗi việc từ Việt Nam bay qua, chỉ làm một nhiệm vụ là truy tìm đường dây chuyển kiều hối từ những người bỏ trốn và đe dọa gây áp lực với họ hàng của họ ở Việt Nam để họ khai ra thông tin của những người bỏ trốn đâu đó quanh Đài Loan.

Ủy ban chuyên trách những vấn đề liên quan tới lao động của Đài Loan cho biết họ vẫn đang chủ động hỗ trợ những người bỏ trốn, những người tự nguyện tham gia vào chương trình gia hạn 3 tháng. Hơn thế nữa, ủy ban này còn chỉ ra rằng họ đang xây dựng một hệ thống và cơ sở hoàn chỉnh để bảo vệ cho lao động nước ngoài và sẽ được áp dụng từ trước khi đến và sau khi rời khỏi hòn đảo này. Mục tiêu là hướng những người làm công việc môi giới và những thứ không cần thiết khác tập trung lại cùng nhau và tham gia vào một “trung tâm liên danh dịch vụ thuê mướn trực tiếp” sẽ được thành lập.

Vấn đề lao động nước ngoài phức tạp đến mức ngay cả những chính sách được nghiên cứu rất kỹ cũng dễ dàng trở thành phản tác dụng. Tuy nhiên ông Hung nói thêm rằng trong một thế giới hoàn hảo, những ông chủ thuê lao động ở nước ngoài nên trả một khoản cho nhà môi giới lao động để giúp họ thuê những người phù hợp. “Nhưng những nỗ lực hạn chế đường dây môi giới lại tạo ra một tình huống éo le khác. Tôi nghe nói những người môi giới hiện nay đã trả cho chủ thuê số tiền mà họ giữ của người lao động” - ông Hung nói.

Trong khi đó, Hàn Quốc chỉ vừa mở cửa trở lại tiếp nhận lao động Việt Nam sau một chương trình thí điểm ký quỹ 100 triệu đồng trước khi sang Hàn Quốc làm việc. 

Theo đó, nếu người lao động về nước trước thời hạn do vi phạm hợp đồng, tiền ký quỹ sẽ được sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra, tiền thừa sẽ được trả lại cho người lao động; nếu không đủ, thì người lao động phải nộp bổ sung. 

Trường hợp người lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng, hoặc hết hạn hợp đồng không về nước đúng hạn, ở lại cư trú và làm việc trái phép tại Hàn Quốc, tiền ký quỹ sẽ không được hoàn trả. Nếu về nước đúng hạn, tiền ký quỹ sẽ được trả lại cả gốc lẫn lãi. Cùng với Nghị định 95, chương trình thí điểm này khiến những người bỏ trốn sẽ đối mặt với tổn thất lớn nhất về tài chính.

Theo ông Hung, điều khoản quy định tiền phạt nặng đối với những người lao động Việt Nam tại nước ngoài bỏ trốn là một vấn đề hóc búa khi đưa ra xem xét tại đàm phán TPP.